Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

 

Cây Khoai Lang

Khoai tây: một trong nguồn dinh dưỡng tốt nhất với giá cả phải chăng

Khoai tây: một trong nguồn dinh dưỡng tốt nhất với giá cả phải chăng
Thanh Vân _ dostdongnai, Theo Eurekalert

Một mối lo ngại thường được bày tỏ trong các cuộc tranh luận về y tế đang diễn ra hiện nay là tình trạng không đủ khả năng về tài chính để mua các loại rau tươi, đặc biệt là các loại rau giàu chất dinh dưỡng. Một nghiên cứu mới, được công bố trên tạp chí PLOS ONE, cho thấy khoai tây là một trong những nguồn dinh dưỡng tốt nhất trong cửa hàng nông phẩm, với giả rẻ hơn so với hầu hết các loại rau sống khác và cung cấp một nguồn kali với giá cả phải chăng nhất trong các loại rau thường được mua, chỉ đứng sau đậu.

Tiến sĩ Adam Drewnowski và các đồng nghiệp từ Đại học Washington  đã sử dụng phương pháp kết hợp xem xét thông tin về chất dinh dưỡng cùng với dữ liệu về giá cả thực phẩm quốc gia để tạo ra một "chỉ số về khả năng chi trả", và chỉ số này sau đó được sử dụng để kiểm tra các chất dinh dưỡng tính trên từng đơn vị chi phí cho 98 loại rau củ cũng như năm nhóm rau củ, gồm rau củ có màu xanh đậm, rau củ có màu cam/đỏ, rau củ ở dạng tinh bột, các loại đậu (đậu hạt và đậu trái) và các loại rau củ "khác".

Kết quả cho thấy  tuy các loại rau củ màu xanh đậm có điểm số về mật độ chất dinh dưỡng cao nhất, nhưng sau khi tính toán chi phí, thì rau củ ở dạng tinh bột (trong đó có khoai tây) và các loại đậu cung cấp giá trị dinh dưỡng tốt hơn xét về mặt chi phí. Đặc biệt, khoai tây, là một trong các lựa chọn chi phí thấp nhất cho bốn chất dinh dưỡng quan trọng gồm kali, chất xơ, vitamin C và magiê. Trong số các loại rau thường được mua, thì khoai tây và đậu cung cấp nguồn kali và chất xơ với chi phí thấp nhất – đây là hai chất dinh dưỡng được quan tâm trong Bản Hướng dẫn chế độ ăn uống của Bộ Nông nghiệp Mỹ 2010.

"Khả năng nhận diện được các loại rau củ nhiều chất dinh dưỡng với giá cả phải chăng là một việc quan trọng đối với các gia đình khi muốn tiết kiệm chi tiêu trong thực phẩm cũng như đối với các nhà hoạch định chính sách của chính phủ khi muốn cân bằng dinh dưỡng và kinh tế cho các chương trình thực phẩm như các chương trình ăn trưa ở nhà trường," trưởng nhóm nghiên cứu, tiến sĩ Adam Drewnowski, nhận xét. "Và, khi nói đến dinh dưỡng với giá cả phải chăng, thì thật khó để đánh bại khoai tây".

Nghiên cứu này được tài trợ bởi Ban Khoai Tây Hoa Kỳ và  bổ sung thêm bằng chứng vào nguồn cơ sở dữ liệu ngày càng nhiều về khoa học dinh dưỡng của khoai tây trong một chế độ ăn uống lành mạnh. Ngoài ra, một củ khoai tây với kích thước trung bình chỉ chứa 110 calo, nhưng có hàm lượng kali rất cao (620g) so với một quả chuối (450g), cung cấp gần một nửa giá trị vitamin C hàng ngày (45%), và không chứa chất béo, natri hay cholesterol.

Thông tin về Ban Khoai Tây Hoa Kỳ

Ban Khoai Tây Hoa Kỳ (USPB) là tổ chức nghiên cứu  và tiếp thị khoai tây của Mỹ. Có trụ sở tại Denver, Colorado, USPB đại diện cho hơn 2.500 người trồng khoai tây và xử lý khoai tây trên cả nước. USPB được thành lập vào năm 1971 bởi một nhóm các nhà trồng khoai tây để thúc đẩy các lợi ích của việc ăn khoai tây. Ngày nay, là một tổ chức về hàng hóa rau củ lớn nhất, USPB tự hào được công nhận là một tổ chức sáng tạo trong ngành nông phẩm và thúc đẩy khoai tây trở thành một nguồn dinh dưỡng thật sự tốt đẹp.

Source: http://www.eurekalert.org/pub_releases/2013-05/fi-nrs052413.php

FOOD CROPS. HỌC MỖI NGÀY

Cây có củ và tác động của biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu có thể khiến củ khoai lang siêu lớn
L.H - Dost-dongnai, theo New Scientist Environment

alt
Nồng độ khí carbon dioxit trong khí quyển tăng có thể mang đến một điều tích cực: tăng gấp đôi kích thước của khoai lang, cây lương thực quan trọng thứ năm ở các nước đang phát triển.

Hầu hết các nghiên cứu về những tác động của CO2 trong khí quyển cao đối với cây trồng đã phát hiện sản lượng tăng đối với lúa mì, lúa gạo và đậu nành. Khoai lang đang ngày càng trở thành một loại lương thực chủ yếu ở châu Phi và châu Á. Cây trồng này sản xuất "nhiều năng lượng ăn mỗi ha mỗi ngày hơn so với lúa mì, lúa gạo hay sắn", theo Trung tâm nghiên cứu khoai quốc tế.

Hope Jahren từ Đại học Hawaii ở Manao và các đồng nghiệp đã trồng khoai ở 4 mức nồng độ CO2 khác nhau: mức hiện nay là 390 phần triệu và 760, 1140 và 1520. Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu dự đoán rằng nồng độ CO2 trong khí quyển sẽ đạt từ 500 đến 1000 phần triệu vào năm 2100.

Đối với kịch bản ít cực đoan nhất với nồng độ 760 phần triệu, nhóm phát hiện kích thước củ cũng tăng lên đến 96%.

Nhóm nghiên cứu hiện đang kiểm hàm lượng dinh dưỡng của những củ khoa siêu kích cỡ này. "Liệu khoai lang này có giàu chất dinh dưỡng hơn không hay bạn có phải ăn nhiều gấp đôi để có đủ chất dinh dưỡng cần thiết không?" Ben Czeck thành viên của nhóm nghiên cứu đặt câu hỏi “Điều quan trọng là nghiên cứu trước đây cho thấy hàm lượng protein trong lúa mì, gạo, lúa mạch và khoai tây đã giảm 15% khi trồng trong điều kiện nồng độ CO2 tăng gấp so với hiện nay.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Giống khoai lang ở Việt Nam

FOODCROPS. Nguồn gen giống khoai lang trên thế giới. Nguồn gen giống khoai lang ở Việt Nam. Nguồn gốc và đặc tính chủ yếu của một số giống khoai lang phổ biến trong sản xuất hiện nay Hoàng Long, Hưng Lộc 4, HL518 (Nhật đỏ), Kokey 14 (Nhật vàng), HL491 (Nhật tím), Murasa Kimasari (Nhật tím 1), HL284 (Nhật trắng), KB1

Nguồn gen giống khoai lang trên thế giới

TS. Hoàng Kim

Hầu hết những nước trồng nhiều khoai lang trên thế giới đều có bộ sưu tập nguồn gen giống khoai lang. Nơi lưu giữ nguồn gen khoai lang lớn nhất toàn cầu là Trung tâm Khoai tây Quốc tế (Centro Internacional de la Papa – CIP) với tổng số 7007 mẫu giống khoai lang được duy trì năm 2005. Trong số này có 5.920 mẫu giống khoai lang trồng (Ipomoea batatas) và 1087 mẫu giống khoai lang loài hoang dại (Ipomoea trifida và các loài Ipomoea khác). Việc duy trì nguồn gen ở CIP được thực hiện trong ống nghiệm, trên đồng ruộng, bảo quản bằng hạt và được đánh giá theo tiêu chuẩn quốc tế.

Khoai lang Trung Quốc cho năng suất cao, chịu lạnh nhưng chất lượng không ngon so với khoai lang của Nhật, Mỹ khi trồng ở Việt Nam.

Khoai lang Mỹ nổi tiếng về chất lượng cao, phổ biến các giống khoai lang có ruột củ màu cam đậm, dẽo và có hương vị thơm để tiêu thụ tươi như một loại rau xanh cao cấp và dùng trong công nghiệp thực phẩm. Mỹ hiện đang tiếp tục thực hiện các nghiên cứu chọn giống khoai lang chất lượng cao giàu protein, vitamin A và có hương vị thơm; ứng dụng công nghệ gen, công nghệ tế bào trong tạo giống.

Khoai lang Nhật cũng nổi tiếng về chất lượng cao với hướng chọn tạo giống khoai lang để sử dụng lá làm rau xanh, làm nước sinh tố và thực phẩm có màu tím hoặc màu cam đậm tự nhiên. Nhược điểm khoai lang Nhật khi trồng ở Việt Nam là thời gian sinh trưởng dài trên 115 ngày.(Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 2006)

Nguồn gen giống khoai lang ở Việt Nam

Nguồn gen giống khoai lang Việt Nam chủ yếu được thu thập, đánh giá và bảo tồn tại Trung tâm Tài nguyên Thực vật, thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam với 528 mẫu giống đã được tư liệu hoá (trong đó có 344 mẫu do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chuyển đến) Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm (FCRI) có 118 mẫu giống, Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc hiện có 78 mẫu giống. Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh có 30 mẫu giống.

Tại các tỉnh phía Bắc, các giống khoai lang trồng phổ biến hiện có: Hoàng Long, KB1, K51, Tự Nhiên. Viện Cây Lương thực Cây Thực phẩm (FCRI) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (VASI) trong 22 năm (1981-2003), đã tuyển chọn và giới thiệu 15 giống khoai lang tốt theo ba hướng chính: 1) Nhóm giống khoai lang năng suất củ tươi cao, chịu lạnh, ngắn ngày, thích hợp vụ đông, gồm K1, K2, K3, K4, K7, K8, VX37-1, Cực nhanh. Những giống này chủ yếu được nhập nội từ CIP, Philippines, Trung Quốc, Liên Xô (cũ) trong giai đoạn 1980-1986 và tuyển chọn để tăng vụ khoai lang đông. 2) Nhóm giống khoai lang năng suất củ cao, nhiều dây lá thích hợp chăn nuôi, gồm KL1, KL5, K51. Các giống này phát triển ở giai đoạn 1986-2000 trong chương trình hợp tác với CIP. 3) Nhóm giống khoai lang năng suất củ cao, phẩm chất ngon. gồm việc phục tráng và chọn lọc giống khoai lang Hoàng Long, Chiêm Dâu (Vũ Tuyên Hoàng, Mai Thạch Hoành 1986, 1992), Tự Nhiên (Trương Văn Hộ và ctv, 1999); tuyển chọn và phát triển giống khoai lang KB1 (Nguyễn Thế Yên, 2003).

Ở các tỉnh phía Nam các giống khoai lang hiên trồng phổ biến là HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím), Murasa kimasari (Nhật tím) Kokey 14 (Nhật vàng), HL497 (Nhật cam), HL4, Hoàng Long, Chiêm Dâu, Trùi Sa, Bí Đà Lạt, Dương Ngọc, Tàu Nghẹn, Trùi Sa (Cần Sa), Khoai Sữa, Khoai Gạo.

Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (HARC) và Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (NLU) trong 22 năm (1981-2003) đã tuyển chọn và giới thiệu 7 giống khoai lang có năng suất củ cao, phẩm chất ngon, thích hợp tiêu thụ tươi gồm Hoàng Long, Chiêm Dâu, Gạo, Bí Đà Lạt (1981), HL4 (1987), HL491, HL518 (1997). Các giống khoai lang chất lượng cao có dạng củ đẹp thuôn láng, được thị trường ưa chuộng có HL518, HL491, Kokey 14, Murasa kimasari..

Những năm gần đây, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh cũng đánh giá và tuyển chọn 24 giống khoai lang khảo nghiệm toàn cầu trong chương trình hợp tác với CIP và khảo sát các giống khoai lang nhiều dây lá , năng suất bột cao cho hướng chế biến cồn trong chương trình hợp tác với công ty Technova và công ty Toyota Nhật Bản (Hoàng Kim 2008).

Những giống khoai lang phẩm chất ngon đang được đánh giá và tuyển chọn trong đề tài “Thu thập, khảo sát, so sánh và phục tráng giống khoai lang tại huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai 2008-2010”. Đây là nội dung hợp tác giữa Sở Khoa học Công nghệ Đồng Nai, Viện Sinh học Nhiệt đới, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh và Phòng Nông nghiệp Xuân Lôc. Kết quả bước đầu có HL518, HL491, Kokey 14, HL284, HL536 (CIP 083-14), HL574 (Cao sản), HL585, HL597 (Hoàng Kim, Trần Ngọc Thùy, Trịnh Việt Nga, Nguyễn Thị Ninh 2009)

Nguồn gốc và đặc tính chủ yếu của một số giống khoai lang

Giống khoai lang HOÀNG LONG

Hoàng Long là giống khoai lang phổ biến ở Việt Nam. Nguồn gốc Trung Quốc nhập nội vào Việt Nam năm 1968. Giống do Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh tuyển chọn và giới thiệu (Hoàng Kim, Nguyễn Thị Thủy, 1981). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1981. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 15 – 27 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng sẫm, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

HL4 là giống khoai lang phổ biến ở vùng Đông Nam Bộ. Nguồn gốc Việt Nam. HL4 là giống lai [khoai Gạo x Bí Dalat] x Tai Nung 57 do Trung tâm Nghiên cứu Thực Nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc tạo chọn và giới thiệu (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1987). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1987. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 18 – 33 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đẹp, dây xanh phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng trung bình, nhiễm nhẹ sâu đục dây.

Giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ)

Nguồn gốc: Giống HL518 do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chọn tạo và giới thiệu từ tổ hợp Kokey 14 polycross nguồn gốc Nhật Bản = CIP92031 = HL518 (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1997). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997; hiện phổ biến trong sản xuất phía Nam và bán nhiều ở các siêu thị.

Đặc tính giống: Thời gian sinh trưởng: 95 -110 ngày. Năng suất củ tươi: 17-32 tấn/ha, tỷ lệ chất khô 27-30%. chất lượng củ luộc ngon, vỏ củ màu đỏ đậm, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây.

Giống khoai lang KOKEY14 (Nhật vàng)

Nguồn gốc: Giống Kokey 14 có nguồn gốc Nhật Bản do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội năm 1997 từ Công ty FSA (Bảng 1). Giống được tuyển chọn và giới thiệu năm 2002 (Hoang Kim, Nguyen Thi Thuy 2003), hiện là giống phổ biến trong sản xuất ở các tỉnh Nam Bộ và bán nhiều tại các siêu thị.

Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 110-120 ngày. Năng suất củ tươi: 15-34. tấn/ha; tỷ lệ chất khô 29-31%. chất lượng củ luộc ngon, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, dây xanh, nhiễm nhẹ sùng (Cylas formicariu) và sâu đục dây (Omphisia anastomosalis) virus xoăn lá (feathery mottle virus), bệnh đốm lá (leaf spot: Cercospora sp), bệnh ghẻ (scab) và hà khoai lang (Condorus sp).

Giống khoai lang HL491 (Nhật tím)

Giống HL491 do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chọn tạo và giới thiệu từ tổ hợp Murasa Kimasari polycross nguồn gốc Nhật Bản = CN76-2 CIP/AVRDC (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1997). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997, hiện phổ biến trong sản xuất phía Nam và bán nhiều ở các siêu thị..

Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 95 -110 ngày. Năng suất củ tươi: 15-27 tấn/ha, tỷ lệ chất khô 27- 31%. chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu tía, thịt củ màu tím đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây.

Giống khoai lang MURASAKIMASARI (Nhật tím 1)

Nguồn gốc: Giống Murasa Kimasari có nguồn gốc Nhật Bản, do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội năm 1994 từ Công ty FSA (Bảng 1). Giống tuyển chọn và giới thiệu năm 2002.(Hoang Kim, Nguyen Thi Thuy 2003) hiện được trồng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, bán tại các chợ đầu mối và siêu thị.

Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 105-110 ngày. Năng suất củ tươi: 10-22. tỷ lệ chất khô 27-30%. chất lượng củ luộc khá ngon, vỏ củ màu tím sẫm, thịt củ màu tím đậm, dạng củ đều đẹp, dây tím xanh, nhiễm nhẹ sùng và sâu đục dây.

Giống khoai lang HL284 (Nhật trắng)

HL284 thuộc nhóm giống khoai lang tỷ lệ chất khô cao, nhiều bột. Nguồn gốc AVRDC (Đài Loan) /Japan. Giống do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội, tuyển chọn và đề nghị khảo nghiệm năm 2000. Thời gian sinh trưởng 90-105 ngày. Năng suất củ tươi 18 – 29 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 28-31%, chất lượng củ luộc khá, độ bột nhiều hơn độ dẽo, vỏ củ màu trắng, thịt củ màu trắng kem, dạng củ đều, dây xanh, nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

Giống khoai lang KB1

KB1 là giống khoai lang hiện đang phát triển ở vùng đồng bằng sông Hồng. Giống do Viện Cây Lương thực Cây Thực phẩm tuyển chọn và giới thiệu (Vũ Văn Chè, 2004). Bộ Nông nghiệp và PTNT đã công nhận giống năm 2004. Thời gian sinh trưởng 95 -100 ngày. Năng suất củ tươi 22 – 32 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-29%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng cam, thịt củ màu cam đậm, dạng củ hơi tròn, dây xanh, ngọn tím, nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

Những bài liên quan
Việt Nam - Khoai lang Atlas - CIP-collab
Kỳ tích từ cây lúa, củ khoai ở Hòn Ðất
Người Trung Quốc thuê đất Việt Nam trồng... khoai lang

Source: http://cayluongthuc.blogspot.com/2012/03/giong-khoai-lang-o-viet-nam.html

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Trung Quốc và khoai lang tím Nhật

FOODCROPS. Báo Nông Nghiệp và bài viết của Hữu Đức về tình hình gia tăng trồng khoai lang tím giống Nhật Bản để bán theo đường tiểu ngạch sang Trung Quốc của hai vùng trồng khoai thuận lợi Kiên Giang và Vĩnh Long .

alt 

Chạy theo khoai lang tím
Hữu Đức

Theo làn sóng nhà nhà trồng khoai lang tím giống Nhật Bản bán theo đường tiểu ngạch sang Trung Quốc, nông dân ở huyện Bình Tân (Vĩnh Long) hăm hở vỡ đất trồng khoai mở rộng lên 6.000 ha, lớn nhất vùng ĐBSCL.

Vừa sau vụ khoai đầu năm trúng mùa, trúng giá cao ngất. Lại nghe nói thương lái Trung Quốc sang thuê đất trồng khoai ở Bình Minh (Vĩnh Long) nên dân trồng khoai càng vững tin. Dù người tính thận trọng đến mấy cũng khó ngồi yên nhìn mấy ông hàng xóm vác cuốc ra đồng lên luống trồng khoai...

Hàng năm mùa khoai lang ở Bình Tân bắt đầu từ sau khi thu hoạch lúa đông xuân. Tháng 1 trồng, đến tháng 4 vỡ khoai. Tháng 4 vừa qua nông dân Bình Tân trúng mùa và bán được cao giá nhất từ trước tới nay. Lúc đỉnh điểm 820.000 đồng/tạ (60 kg/tạ). Nhưng tới những ngày này giá khoai tím hạ dần, chỉ còn 440.000 đồng/tạ. Vậy mà chạy dọc theo quốc lộ 54, hai bên đồng từ chợ Bà lên tới các xã Tân Qưới, Tân Lược, huyện Bình Tân, xen kẽ với mấy thửa ruộng lúa thu đông, nơi có đê bao vững vẫn còn hàng vạn luống khoai thẳng tắp, xòe lá xanh rì.

Nhiều năm qua ở ĐBSCL có hai vùng đất trồng khoai lang bền bỉ do trời phú điều kiện thổ nhưỡng thích nghi và duy trì liền mạch thị trường tiêu thụ. Ở Kiên Giang có 1.000 ha khoai lang tập trung nhiều nhất các huyện Hòn Đất, Kiên Lương, Giồng Riềng. Lâu nay khoai từ vùng này được bán nhiều về TP HCM và các tỉnh trong vùng. Mấy năm gần đây khoai Kiên Giang bắt đầu mở mũi xuất bán sang Campuchia, Thái Lan và bán cho thương lái xuất qua Trung Quốc.

Trong khi đó Vĩnh Long có vùng khoai lang Bình Minh, Bình Tân. Riêng Bình Tân mau chóng nổi lên thành vùng trồng khoai chuyên canh. Khoai từ đây bán đi khắp vùng ĐBSCL và tiêu thụ mạnh nhất là mấy nhà vựa địa phương thu mua, đóng thùng chuyển theo xe tải bán theo đường tiểu ngạch sang Trung Quốc.

Ông Bảy Tố, nông dân xã Thành Lợi, huyện Bình Tân kể: “Thương lái Trung Quốc chuộng mua khoai lang tím. Nhưng họ không mua trực tiếp mà thông qua mấy nhà vựa. Cuối tháng 4 vừa rồi, tôi thu 7 công khoai lang tím năng suất đạt 30-40 tạ/công, bán giá 820.000 đồng/tạ, lãi 18-19 triệu đồng/công. Nhưng họ lựa hàng gắt lắm, củ tròn mới mua, củ dài loại ra bán rẻ, vả lại thị trường nội địa không ăn hàng nhiều khoai tím này”.

Đang mùa mưa. Hàng xuất đi Trung Quốc yếu, giá rớt dần. Đi tới mấy ruộng khoai thu hoạch rộ, dây khoai còn dính củ, bùn đất ướt lấm lem. Dân trồng khoai nói, vỡ khoai mà nhằm ngay mưa là cực trần thân, phải dùng quạt cho khoai ráo, lặt dây và lựa ra mới cân bán được. Đã vậy, khi giá xuống, thị trường chậm ăn thì càng có cớ cho thương lái õng ẹo, kêu hoài chưa muốn tới.

Một nhóm nông dân ở Tân Qưới, huyện Bình Tân ngồi bàn với nhau, mấy hôm trước nghe lái Trung Quốc ra xem hàng, bảo giảm còn 490 ngàn đồng/tạ, nhưng rồi qua mấy tay lái “em” địa phương ém giá còn 440-450 ngàn đồng/tạ. Thế nhưng có người tính, dù cho khoai có rớt mất nửa giá so với hồi tháng 4, với giá 400.000 đồng/tạ, nếu trồng đạt năng suất 40 tạ/công thì chỉ cần 3 công khoai sau một vụ 4 tháng cũng thu 48 triệu đồng, trừ chi phí 10 triệu đồng, lãi ròng chừng 1 cây vàng là ngon rồi.

Nông dân Đỗ Văn Hải, xã Tân Bình, huyện Bình Tân trồng 7 công khoai. Hồi tháng 4, vỡ khoai đợt đầu gần 5 công bán được 700.000 đồng/tạ, tổng thu 162 triệu đồng, trừ chi phí 40 triệu đồng, lãi trên 120 triệu. Phần đất còn lại trồng giống khoai lang trắng, khoai sữa bán thị trường nội địa. Đó là vì ông Hải dè chừng thị trường Trung Quốc dội hàng. Thế nhưng khoai trắng, khoai sữa bán về khắp các chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ), Cái Bè (Tiền Giang) hay ghe chở về tới Cà Mau…được chừng 130.000 đồng/tạ. Nay rớt giá còn 100.000 đồng/tạ, thiệt là mức chênh lệch thấp xa nên ai cũng chạy theo trồng giống khoai tím là phải.

Dù vậy, hiện thời ông Hải chưa hết phân vân: “Hổm nay dân trồng khoai Bình Tân, có người lo ngại khoai xuất bán tiểu ngạch sang Trung Quốc bị ngưng ngang. Phần tôi cũng tin rằng thị trường này bấp bênh và lắm rủi ro. Vì khoai tím một khi dội chợ thì thị trường nội địa cũng không thể nào tiêu thụ hết được. Biết vậy, nhưng tâm lý nông dân là chạy theo giá, thấy lãi nhiều thì liều chơi đại”.

Nguyễn Thanh Tâm, nông dân xã Tân Qưới (Bình Tân) nhìn xa ngoài ruộng khoai trầm ngâm: “Nhớ hồi trước vùng này trồng nhiều giống khoai lang Dương Ngọc, khoai trắng, khoai sữa. Dân Sài Gòn và các tỉnh trong vùng ăn hàng đều đều. Rồi một dạo trồng khoai giống cao sản cũng đạt năng suất, bán ra Hà Nội. Nhưng về sau không còn hút hàng nữa nên thôi. Nay dân trồng khoai tím chạy theo thị trường Trung Quốc nên khoai lang Dương Ngọc bỏ mất giống rồi. Mai mốt thị trường có ăn lại chẳng biết tìm đâu ra giống khoai ngon này”.

Theo Phòng NN- PTNT huyện Bình Tân, toàn huyện có 15.288 ha đất tự nhiên, với hơn 93.700 nhân khẩu. Trong đó hơn phân nửa dân số sống trên vùng chuyên canh khoai lang 6.000 ha. Các mô hình luân canh lúa - khoai, khoai - hoa màu đem lại thu nhập bình quân 100-120 triệu đồng/ha và nếu trúng giá đạt tới 170-200 triệu đồng/ha.

Ông Nguyễn Văn Liêm, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Vĩnh Long: “Bình Tân nổi tiếng trồng khoai ai cũng khen ngon, năng suất cao. Thị trường Trung Quốc vừa qua tiêu thụ dễ tính nhưng chưa biết mai mốt sẽ ra sao nếu họ “thắt lại” yêu cầu tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Vì vậy để vùng trồng khoai phát triển lâu bền nông dân cần hướng tới làm ăn liên kết, sản xuất theo hợp đồng và theo qui trình kỹ thuật đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Đây cũng là cách dự phòng có thể chuyển hướng thị trường xuất khẩu sang nước khác”.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Giống khoai lang ở Việt Nam

FOOD CROPS. Nguồn gen giống khoai lang trên thế giới. Nguồn gen giống khoai lang ở Việt Nam. Nguồn gốc và đặc tính của các giống khoai lang Hoàng Long, Hưng Lộc 4, HL518 (Nhật đỏ), Kokey 14 (Nhật vàng), HL491 (Nhật tím), Murasa Kimasari (Nhật tím 1), HL284 (Nhật trắng), KB1 (Nhật hồng)

alt

Nguồn gen giống khoai lang trên thế giới

Hầu hết những nước trồng nhiều khoai lang trên thế giới đều có bộ sưu tập nguồn gen giống khoai lang. Nơi lưu giữ nguồn gen khoai lang lớn nhất toàn cầu là Trung tâm Khoai tây Quốc tế (Centro Internacional de la Papa – CIP) với tổng số 7007 mẫu giống khoai lang được duy trì năm 2005. Trong số này có 5.920 mẫu giống khoai lang trồng (Ipomoea batatas) và 1087 mẫu giống khoai lang loài hoang dại (Ipomoea trifida và các loài Ipomoea khác). Việc duy trì nguồn gen ở CIP được thực hiện trong ống nghiệm, trên đồng ruộng, bảo quản bằng hạt và được đánh giá theo tiêu chuẩn quốc tế.

Khoai lang Trung Quốc cho năng suất cao, chịu lạnh nhưng chất lượng không ngon so với khoai lang của Nhật, Mỹ khi trồng ở Việt Nam.

Khoai lang Mỹ nổi tiếng về chất lượng cao, phổ biến các giống khoai lang có ruột củ màu cam đậm, dẽo và có hương vị thơm để tiêu thụ tươi như một loại rau xanh cao cấp và dùng trong công nghiệp thực phẩm. Mỹ hiện đang tiếp tục thực hiện các nghiên cứu chọn giống khoai lang chất lượng cao giàu protein, vitamin A và có hương vị thơm; ứng dụng công nghệ gen, công nghệ tế bào trong tạo giống.

Khoai lang Nhật cũng nổi tiếng về chất lượng cao với hướng chọn tạo giống khoai lang để sử dụng lá làm rau xanh, làm nước sinh tố và thực phẩm có màu tím hoặc màu cam đậm tự nhiên. Nhược điểm khoai lang Nhật khi trồng ở Việt Nam là thời gian sinh trưởng dài trên 115 ngày.(Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 2006)

Nguồn gen giống khoai lang ở Việt Nam

Nguồn gen giống khoai lang Việt Nam chủ yếu được thu thập, đánh giá và bảo tồn tại Trung tâm Tài nguyên Thực vật, thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam với 528 mẫu giống đã được tư liệu hoá (trong đó có 344 mẫu do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chuyển đến) Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm (FCRI) có 118 mẫu giống, Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc hiện có 78 mẫu giống.. Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh có 30 mẫu giống.

Tại các tỉnh phía Bắc, các giống khoai lang trồng phổ biến hiện có: Hoàng Long, KB1, K51, Tự Nhiên. Viện Cây Lương thực Cây Thực phẩm (FCRI) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (VASI) trong 22 năm (1981-2003), đã tuyển chọn và giới thiệu 15 giống khoai lang tốt theo ba hướng chính: 1) Nhóm giống khoai lang năng suất củ tươi cao, chịu lạnh, ngắn ngày, thích hợp vụ đông, gồm K1, K2, K3, K4, K7, K8, VX37-1, Cực nhanh. Những giống này chủ yếu được nhập nội  từ CIP, Philippines, Trung Quốc, Liên Xô (cũ)  trong giai đoạn 1980-1986 và tuyển chọn để tăng vụ khoai lang đông. 2) Nhóm giống khoai lang năng suất củ cao, nhiều dây lá thích hợp chăn nuôi, gồm KL1, KL5, K51. Các giống này phát triển ở giai đoạn 1986-2000 trong chương trình hợp tác với CIP. 3) Nhóm giống khoai lang năng suất củ cao, phẩm chất ngon. gồm việc phục tráng và chọn lọc giống khoai lang Hoàng Long, Chiêm Dâu (Vũ Tuyên Hoàng, Mai Thạch Hoành 1986, 1992), Tự Nhiên (Trương Văn Hộ và ctv, 1999); tuyển chọn và phát triển giống khoai lang KB1 (Nguyễn Thế Yên, 2003).

Ở các tỉnh phía Nam các giống khoai lang hiên trồng phổ biến là HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím), Murasa kimasari (Nhật tím) Kokey 14 (Nhật vàng), HL497 (Nhật cam), HL4, Hoàng Long, Chiêm Dâu, Trùi Sa, Bí Đà Lạt, Dương Ngọc, Tàu Nghẹn, Trùi Sa (Cần Sa), Khoai Sữa, Khoai Gạo.

Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (HARC) và Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (NLU)  trong 22 năm (1981-2003) đã tuyển chọn và giới thiệu 7 giống khoai lang có năng suất củ cao, phẩm chất ngon, thích hợp tiêu thụ tươi gồm Hoàng Long, Chiêm Dâu, Gạo, Bí Đà Lạt (1981), HL4 (1987), HL491, HL518 (1997). Các giống khoai lang chất lượng cao có dạng củ đẹp thuôn láng, được thị trường ưa chuộng có HL518, HL491, Kokey 14, Murasa kimasari..

Những năm gần đây, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh cũng đánh giá và tuyển chọn 24 giống khoai lang khảo nghiệm toàn cầu trong chương trình hợp tác với CIP và khảo sát các giống khoai lang nhiều dây lá , năng suất bột cao cho hướng chế biến cồn trong chương trình hợp tác với công ty Technova và công ty Toyota Nhật Bản (Hoàng Kim 2008).

Những giống khoai lang phẩm chất ngon đang được đánh giá và tuyển chọn trong đề tài “Thu thập, khảo sát, so sánh và phục tráng giống khoai lang tại huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai 2008-2010”. Đây là nội dung hợp tác giữa Sở Khoa học Công nghệ Đồng Nai, Viện Sinh học Nhiệt đới, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh và Phòng Nông nghiệp Xuân Lôc. Kết quả bước đầu có HL518, HL491, Kokey 14, HL284, HL536 (CIP 083-14), HL574 (Cao sản), HL585, HL597 (Hoàng Kim, Trần Ngọc Thùy, Trịnh Việt Nga, Nguyễn Thị Ninh 2009)

4.3 Nguồn gốc và đặc tính chủ yếu của một số giống khoai lang

Giống khoai lang HOÀNG LONG  là giống khoai lang phổ biến ở Việt Nam. Nguồn gốc Trung Quốc nhập nội vào Việt Nam năm 1968. Giống do Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh tuyển chọn và giới thiệu (Hoàng Kim, Nguyễn Thị Thủy, 1981). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1981. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 15 – 27 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng sẫm, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình

Giống khoa HL4 là giống khoai lang phổ biến ở vùng Đông Nam Bộ. Nguồn gốc Việt Nam. HL4 là giống lai [khoai Gạo x Bí Dalat] x Tai Nung 57 do Trung tâm Nghiên cứu Thực Nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc tạo chọn và giới thiệu (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1987). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1987. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 18 – 33 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đẹp, dây xanh phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng trung bình, nhiễm nhẹ sâu đục dây.

Giống khoai HL518  do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chọn tạo và giới thiệu từ tổ hợp Kokey 14 polycross nguồn gốc Nhật Bản = CIP92031 = HL518 (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1997). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997; hiện phổ biến trong sản xuất phía Nam và bán nhiều ở các siêu thị. Đặc tính giống: Thời gian sinh trưởng: 95 -110 ngày. Năng suất củ tươi: 17-32 tấn/ha, tỷ lệ chất khô 27-30%. chất lượng củ luộc ngon, vỏ củ màu đỏ đậm, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây.

Giống khoai Kokey 14 (Nhật vàng) có nguồn gốc Nhật Bản do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội năm 1997 từ Công ty FSA (Bảng 1). Giống được tuyển chọn và giới thiệu năm 2002 (Hoang Kim, Nguyen Thi Thuy 2003), hiện là giống phổ biến trong sản xuất ở các tỉnh Nam Bộ và bán nhiều tại các siêu thị.Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 110-120 ngày. Năng suất củ tươi: 15-34. tấn/ha; tỷ lệ chất khô 29-31%. chất lượng củ luộc ngon, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, dây xanh, nhiễm nhẹ sùng (Cylas formicariu) và sâu đục dây (Omphisia anastomosalis) virus xoăn lá (feathery mottle virus), bệnh đốm lá (leaf spot: Cercospora sp), bệnh ghẻ (scab) và hà khoai lang (Condorus sp).

Giống HL491 (Nhật tím) do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chọn tạo và giới thiệu từ tổ hợp Murasa Kimasari polycross nguồn gốc Nhật Bản = CN76-2 CIP/AVRDC (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1997). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997, hiện phổ biến trong sản xuất phía Nam và bán nhiều ở các siêu thị. Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 95 -110 ngày. Năng suất củ tươi: 15-27 tấn/ha, tỷ lệ chất khô 27- 31%. chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu tía, thịt củ màu tím đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây.

Giống khoai Murasa Kimasari có nguồn gốc Nhật Bản, do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội năm 1994 từ Công ty FSA (Bảng 1). Giống tuyển chọn và giới thiệu năm 2002.(Hoang Kim, Nguyen Thi Thuy 2003) hiện được trồng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, bán tại các chợ đầu mối và siêu thị. Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 105-110 ngày. Năng suất củ tươi: 10-22. tỷ lệ chất khô 27-30%. chất lượng củ luộc khá ngon, vỏ củ màu tím sẫm, thịt củ màu tím đậm, dạng củ đều đẹp, dây tím xanh, nhiễm nhẹ sùng và sâu đục dây.

Giống khoai HL284 (Nhật trắng) thuộc nhóm giống khoai lang tỷ lệ chất khô cao, nhiều bột. Nguồn gốc AVRDC (Đài Loan) /Japan. Giống do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội, tuyển chọn và đề nghị khảo nghiệm năm 2000. Thời gian sinh trưởng 90-105 ngày. Năng suất củ tươi 18 – 29 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 28-31%, chất lượng củ luộc khá, độ bột nhiều hơn độ dẽo, vỏ củ màu trắng, thịt củ màu trắng kem, dạng củ đều, dây xanh, nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

Giống khoai KB1 là giống khoai lang hiện đang phát triển ở vùng đồng bằng sông Hồng. Giống do Viện Cây Lương thực Cây Thực phẩm tuyển chọn và giới thiệu (Vũ Văn Chè, 2004). Bộ Nông nghiệp và PTNT đã công nhận giống năm 2004. Thời gian sinh trưởng 95 -100 ngày. Năng suất củ tươi 22 – 32 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-29%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng cam, thịt củ màu cam đậm, dạng củ hơi tròn, dây xanh, ngọn tím, nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

TS. Hoàng Kim

Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh

Source: http://foodcrops.blogspot.com/2010/01/giong-khoai-lang-o-viet-nam.html

 

Văn hóa giáo dục

Nghị lực vào đời

Dạy Và Học

Dạy và Học
Dạy Và Học

Cây Lúa

Cây Lúa Hôm Nay

Cuộc Sống

Tình Yêu Cuộc Sống

Danh Nhân

Danh Nhân Việt Nam