Font Size

Profile

Layout

Direction

Menu Style

Cpanel

Cây Lúa

Khảo nghiệm giống lúa trên vùng đất nhiễm mặn

Khảo nghiệm giống lúa trên vùng đất nhiễm mặn
 
Thời gian qua, cánh đồng ven biển thường bị nhiễm mặn, nhiều diện tích lúa ngã rạp do nước biển xâm thực. Để tạo ra giống lúa chịu mặn thích ứng với biến đổi khí hậu, Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh đã tiến hành trồng khảo nghiệm 21 giống lúa chịu mặn. Sau 2 vụ đã chọn ra 3 giống có tính chịu mặn cao đưa vào sản xuất vụ đến.
 
CHỌN ĐƯỢC 3 GIỐNG LÚA CHỊU MẶN CAO
 
Liên tiếp trong 2 vụ lúa vừa qua (đông xuân 2013-2014, hè thu 2104), tại cánh đồng các xã An Hòa, An Ninh Tây (huyện Tuy An), Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh đã tiến hành trồng khảo nghiệm bộ giống gồm 21 giống lúa. Đây là bộ giống lúa được chọn từ 2 nguồn: H (Huế) của Trường đại học Nông lâm Huế và GSR (siêu lúa xanh) của Trường đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh với giống đối chứng ML49 trồng phổ biến tại địa phương.
 
Diện tích ruộng khảo nghiệm là 2.000m2 (mỗi xã 1.000m2) và được phân ra 2 nhóm kỹ thuật, mỗi nhóm có 3 cán bộ của Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh và 1 cán bộ địa phương. Trong suốt vụ trồng khảo nghiệm, nhóm kỹ thuật ghi lại các số liệu điều tra, đặc tính nông học của các giống lúa từng giai đoạn, từ khi lúa bén rễ đến đẻ nhánh rồi trổ đòng. Theo điều tra của nhóm kỹ thuật, độ mặn ở ruộng khảo nghiệm 7 ngày sau sạ lên đến 1,73%o, đây là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của lúa ở giai đoạn mạ. Thế nhưng, các giống khảo nghiệm đều có thời gian bén rễ 4 đến 5 ngày sau cấy, tạo điều kiện cho lúa đẻ nhánh sớm, tỉ lệ số nhánh hữu hiệu thành bông cao, dẫn đến tăng năng suất. Chị Nguyễn Thị Xuân Tình, đại diện nhóm kỹ thuật ở ruộng thực nghiệm xã An Hòa, cho hay: “Các giống đều đẻ nhánh tối đa 42 ngày sau cấy, chỉ có giống GSR99 tối đa là 49 ngày. Giống đẻ nhánh cao nhất là giống GSR99 với 15,2 nhánh/khóm (bụi), giống đẻ nhánh thấp nhất là giống GSR90 với 6,4 nhánh/khóm, so với giống đối chứng ML49 là 8,3 nhánh/khóm. Tỉ lệ nhánh hữu hiệu của các giống khảo nghiệm đạt từ 63 đến 90,9%. Từ việc nghiên cứu đẻ nhánh của cây lúa để gieo cấy mật độ thích hợp, giảm tối đa tỉ lệ nhánh vô hiệu, giảm tiêu hao phân bón.
 
Thời gian sinh trưởng của cây lúa là một trong những chỉ tiêu để chọn giống cơ cấu vào sản xuất. Qua kết quả theo dõi cho thấy, các giống lúa khảo nghiệm có thời gian sinh trưởng từ 117 đến 137 ngày, so với giống đối chứng ML49 là 119 ngày. Sâu bệnh hại là yếu tố quyết định năng suất, lợi nhuận sau này, trong đó, đáng chú ý là bệnh đạo ôn thường xuất hiện ở vụ đông xuân. Qua theo dõi các giống ở ruộng khảo nghiệm, chỉ có giống GSR66 xuất hiện bệnh đạo ôn nhưng tỉ lệ rất thấp. Bệnh đốm nâu xuất hiện trên các giống nhưng tỉ lệ bệnh cũng rất thấp.
 
Cuối vụ năng suất thực thu các giống lúa khảo nghiệm đạt từ 13,7 đến 74 tạ/ha, trong đó giống GSR66 đạt cao nhất với 74 tạ/ha, cao hơn so với giống đối chứng 8,9 tạ/ha; thấp nhất là giống GSR99 với 13,7 tạ/ha thấp hơn so với giống đối chứng 51,4 tạ/ha. Các giống H2, H7, H5, GSR99, GSR65, GSR39, GSR100 và ĐV2 đều chênh lệch so với giống đối chứng.
 
Từ cơ sở số liệu điều tra theo đặc tính của giống và điều kiện ngoại cảnh tác động trên cùng một điều kiện canh tác, qua 2 vụ trồng khảo nghiệm, nhóm kỹ thuật đã chọn ra 3 giống lúa H11, GSR50, GSR65 có tính chống chịu mặn cao đưa vào sản xuất đại trà trong thời gian đến.
 
SẼ ĐƯA VÀO SẢN XUẤT ĐẠI TRÀ
 
Từ nhiều năm nay, cánh đồng xã An Ninh Tây thường bị nhiễm mặn do nước biển xâm thực nên nhiều diện tích lúa trong giai đoạn đẻ nhánh đang phát triển tươi tốt thì ngã rạp. Ông Võ Quang Hưng, Phó giám đốc HTX Kinh doanh dịch vụ nông nghiệp An Ninh Tây, cho biết: “Nước biển ngày càng lấn sâu vào đất liền với nồng độ cao hơn, vì vậy phải tạo ra giống lúa chống chịu mặn mới mang lại hiệu quả. Trước đây, nhiều thửa ruộng bị ngập mặn mất trắng, rủi ro về kinh tế cho nông dân rất lớn”.
 
Đối với cánh đồng xã An Hòa, tình hình nhiễm mặn tiềm tàng trong đất, những thửa ruộng mùa nắng khô nước để lại lớp muối trong đất. Theo nghiên cứu của nhóm kỹ thuật, độ mặn ở đây lên đến 10%o, quá sức chịu đựng của cây lúa. Lâu nay, cái khó đối với nông dân canh tác trên cánh đồng này là không có giống chịu mặn để gieo sạ. Ông Cao Văn Tiên, Phó phòng NN-PTNT huyện Tuy An, cho hay: Khu vực ruộng nhiễm mặn, bà con nông dân đặt máy bơm nước ngọt từ các ao vào ruộng để rửa mặn, đồng thời phun thuốc dưỡng nhưng giống lúa trồng ở địa phương lâu nay không chịu nổi độ mặn cao nên phát triển kém, còi cọc. Còn khi trổ, do quá trình phân hóa đòng bị nhiễm mặn nên bông lúa hoại tử. Phòng NN-PTNT huyện đề nghị cơ quan chức năng tiếp tục khảo nghiệm các bộ giống mới tại các vùng trồng lúa bị nhiễm mặn để chọn ra những giống lúa chống chịu mặn tốt.
 
Thống kê của Chi cục Bảo vệ thực vật, toàn tỉnh có khoảng 600ha bị nhiễm mặn, trong đó, huyện Tuy An có diện tích lúa nhiễm mặn nhiều nhất, với 300ha tập trung ở các xã An Hòa (80ha), An Cư (30ha), An Ninh Đông (70ha), An Ninh Tây (30ha), An Hiệp (60ha) và An Mỹ (30ha). Thời điểm ảnh hưởng triều cường nhẹ, năng suất lúa ở vùng này chỉ đạt từ 30 đến 50 tạ/ha, ảnh hưởng nặng chỉ đạt từ 10 đến 20 tạ/ha, có nơi mất trắng. Chi phí sản xuất ở các chân ruộng bị nhiễm mặn tăng cao do triều cường ngập lúc đầu vụ nên phải sạ lại 2 đến 3 lần.
 
Thạc sĩ Đặng Văn Mạnh, Phó chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh, cho biết: Mực nước biển xâm thực đã làm tăng thêm diện tích lúa bị nhiễm mặn, ảnh hưởng đến cơ cấu sản xuất và sản lượng nông nghiệp. Vì vậy, việc chọn tạo giống lúa có khả năng chịu mặn để đảm bảo an toàn lương thực, tăng thu nhập cho người nông dân tại vùng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu là cần thiết. Qua theo dõi, khảo sát và đánh giá của các chuyên gia, trong 21 giống trong bộ giống lúa chịu mặn được Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh triển khai khảo nghiệm trong thời gian qua, có 3 giống lúa gồm H11, GSR50, GSR65 chịu được mặn, phát triển tốt và cho năng suất cao, thời gian đến sẽ đưa vào sản xuất đại trà.

 

Nghiên cứu đặc tính nông sinh học của bộ giống lúa cao sản chịu nóng tại miền Nam

Nghiên cứu đặc tính nông sinh học của bộ giống lúa cao sản chịu nóng tại miền Nam

Khí hậu nóng, khô làm giảm phẩm chất và năng suất của cây trồng, đôi khi cây trồng không cho trái, đặc biệt là cây lúa ở giai đoạn ra hoa là giai đoạn rất mẫn cảm với điều kiện khô hạn và nóng kéo dài. Hạt lúa thường trổ không thoát cổ bông hoặc trổ nhưng bị lép, làm thất thoát năng suất.

Vì thế, “Nghiên cứu đặc tính nông sinh học của bộ giống lúa cao sản chịu nóng tại miền Nam” nhằm tìm ra vật liệu khởi đầu cho công tác lai tạo giống lúa chống chịu nóng.

Các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Nông lâm TP.HCM, Viện Lúa ĐBSCL và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam đã tiến hành phân tích mức độ đa dạng giữa 50 giống lúa cải tiến từ ngân hàng gien của Bộ môn Di truyền Chọn giống, Viện Lúa ĐBSCL cung cấp.

Nghiên cứu đã xác định được một số giống chịu nóng nổi trội về các đặc tính như thời gian sinh trưởng, cao cây, dài bông, hạt chắc/bông cao. Đây chính là những nguồn vật liệu di truyền rất quí có thể phục vụ cho công tác lai tạo, chọn giống để đáp ứng yêu cầu của sản xuất và phục vụ cho nhu cầu ngày càng tăng của xã hội.

Xét về đặc tính nông học đa số các giống lúa chịu nóng phân bố theo chiều cao cây nằm trong nhóm 100-120 cm (có 45 giống). Nhóm 120-140 cm bao gồm 3 giống. Các nhóm còn lại 140-160 cm, 160- 180 cm, 180-200 cm là các giống phân bố rất ít biến động (từ 0 đến 1 giống). Các nhóm còn lại có rất ít các giống. Điều này chứng tỏ các giống lúa chịu nóng chỉ tập trung ở chiều cao trung bình khá.

Về năng suất (g/bụi), các giống có năng suất biến động rất khác nhau, tuy nhiên năng suất trung bình một bụi khoảng 6,2638 g. Giống có năng suất bụi lớn nhất là giống TLR 395 là 8,97 g. Ngược lại, giống Gayabyeo lại cho năng suất khá thấp, chỉ khoảng 2,1 g.

Khối lượng 1000 hạt có sự biến động tương đối lớn giữa các giống, trung bình có khối lượng 1000 hạt là 26,152 g. Trong đó giống TLR 402 có khối lượng 1000 hạt cao nhất (28,70 g), thấp nhất là R6 (23,4 g).

Về năng suất (g/bụi), các giống có năng suất biến động rất khác nhau, tuy nhiên năng suất trung bình một bụi khoảng 6,2638 g. Giống có năng suất bụi lớn nhất là giống TLR 395 là 8,97 g. Ngược lại, giống Gayabyeo lại cho năng suất khá thấp, chỉ khoảng 2,1 g.

Khối lượng 1000 hạt có sự biến động tương đối lớn giữa các giống, trung bình có khối lượng 1000 hạt là 26,152 g. Trong đó giống TLR 402 có khối lượng 1000 hạt cao nhất (28,70 g), thấp nhất là R6 (23,4 g).

Các giống chống chịu nóng tốt là 6 giống: TLR390, TLR 391, N22, OM10040, OM8108, Du La và OM 4900.

FOODCROPS. CÂY LƯỢNG THỰC

Mô hình thống kê dự báo năng suất của lúa lai

Mô hình thống kê dự báo năng suất của lúa lai

Dự báo di truyền - một lĩnh vực mới của di truyền định lượng, là một phương pháp tiếp cận thống kê để dự báo giá trị của một đặc điểm quan trọng về kinh tế ở thực vật, chẳng hạn như sản lượng và khả năng kháng bệnh.

 

Phương pháp này được thực hiện nếu các đặc điểm đó là có thể di truyền, bởi nhiều đặc điểm có xu hướng như vậy, và có thể được thực hiện sớm trong vòng đời của cây trồng, giúp giảm chi phí.

Giờ đây, một nhóm nghiên cứu do nhà di truyền học thực vật tại trường Đại học California, Riverside và Đại học Nông nghiệp Huazhong, Trung Quốc, đã sử dụng phương pháp này để dự báo hiệu suất của lúa lai (chẳng hạn như năng suất, tốc độ tăng trưởng và khả năng kháng bệnh). Công nghệ mới này có thể cách mạng hóa tiềm năng lai tạo giống trong ngành nông nghiệp.

Nghiên cứu này được đăng tải trực tuyến trên Kỷ yếu của Viện hàn lâm khoa học quốc gia, là một dự án nghiên cứu thí điểm về lúa gạo. Công nghệ này có thể dễ dàng mở rộng áp dụng cho cây trồng khác, chẳng hạn như ngô.

"Lúa và ngô là hai cây trồng chính phụ thuộc vào giống lai". Shizhong Xu, một giáo sư về di truyền học tại Khoa Thực vật học và Khoa học thực vật của trường Đại học California, Riverside, là người cùng dẫn dắt dự án nghiên cứu này cho biết. "Nếu chúng ta có thể xác định nhiều giống lai cho hiệu suất cao ở các cây trồng này và sử dụng các giống lai đó, chúng ta có thể làm tăng đáng kể sản lượng ngũ cốc, đạt được an ninh lương thực toàn cầu".

Dự báo di truyền sử dụng các marker mở rộng bộ gien để dự báo các cá thể riêng biệt hoặc các loài trong tương lai. Các marker là gien hoặc các trình tự ADN với các vị trí đã được biết đến trên một nhiễm sắc thể. Dự báo di truyền khác với dự báo truyền thống ở chỗ nó bỏ qua bước phát hiện marker. Phương pháp này chỉ đơn giản là sử dụng tất cả các marker của toàn bộ hệ gen để dự đoán một đặc điểm.

"Lựa chọn trợ giúp của marker cổ điển chỉ sử dụng các marker có ảnh hưởng lớn đến các đặc điểm", Xu giải thích. "Nó bỏ qua tất cả các marker có ảnh hưởng nhỏ. Nhưng nhiều đặc điểm quan trọng về kinh tế được kiểm soát bởi một số lượng lớn các gien có ảnh hưởng nhỏ. Bởi vì mô hình dự báo gien này nắm bắt tất cả các gien có tác động nhỏ, khả năng dự báo được cải thiện rất nhiều".

Nếu không có dự báo di truyền, các nhà lai tạo sẽ phải phát triển tất cả các dòng lai có thể trong lĩnh vực này để chọn lọc ra dòng lai tốt nhất. Chẳng hạn như, trong 1000 dòng cha mẹ thuần, tổng số dòng lai sẽ là 499.500.

"Không thể phát triển các dòng lai này trên cánh đồng", Xu cho biết. "Tuy nhiên, với công nghệ dự báo gien, chúng ta có thể chỉ phát triển 500 phép lai, sau đó dự báo 499.500 phép lai tiềm năng, và chọn lọc dòng lai tốt nhất dựa trên các giá trị dự báo được của các dòng lai này".

Xu lưu ý rằng, dự báo di truyền đặc biệt hữu ích để dự báo các dòng lai bởi vì giải trình tự ADN của dòng lai được xác định bởi bố mẹ thuần của chúng.

Khi các nhà nghiên cứu kết hợp "tính trội" và "át gien" vào mô hình dự báo của họ, họ phát hiện ra rằng khả năng dự báo đã được cải thiện. Trong di truyền học, tính trội mô tả các hành động phối hợp của hai alen khác nhau (bản sao) của một gien. Chẳng hạn như, nếu một bản sao của một gien có giá trị là 1, một bản có giá trị là 2, hiệu lực kết hợp của hai alen có thể là 4, chỉ ra rằng hai alen không phải là cộng tính. Trong trường hợp này, tính trội đã xảy ra. Át gien liên quan đến bất kỳ loại gien nào của tương tác gien.

"Bằng cách kết hợp tính trội và át gien, chúng tôi đã tính đến tất cả các thông tin có sẵn để dự báo", Xu nói. "Nó dẫn đến một dự báo chính xác hơn về giá trị tính trạng".

Dự báo gien có thể được sử dụng để dự đoán các bệnh di truyền của con người. Ví dụ, nhiều bệnh ung thư có tính di truyền và dự báo gien có thể được thực hiện để dự báo nguy cơ mắc bệnh cho một người.

Xu đã tham gia vào nghiên cứu của Qifa Zhang và học trò của ông là Dan Zhu tại trường Đại học Nông nghiệp Huazhong, Trung Quốc.

Tiếp theo, nhóm nghiên cứu do Xu và Zhang dẫn dắt sẽ thiết kế một thử nghiệm thực địa để thực hiện dự báo dòng lai của lúa gạo.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC 

Những dòng/giống lúa ĐTM chịu phèn triển vọng cho vùng Đồng Tháp Mười

Những dòng/giống lúa ĐTM chịu phèn triển vọng cho vùng Đồng Tháp Mười 

Kế thừa những kết quả nghiên cứu trước và kết quả thực hiện đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa chịu phèn, ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng tốt cho vùng Đồng Tháp Mười” từ năm 2012 đến nay, Trung tâm Nghiên cứu và PTNN Đồng Tháp Mười đã lai tạo, chọn lọc và có được nhiều dòng lúa ĐTM mới phục vụ cho nghiên cứu giống. Đặc biệc, có khoảng 90 dòng thuần ĐTM tốt, triển vọng làm nguồn vật liệu cho các bước nghiên cúu thí nghiệm so sánh hậu kỳ, khảo nghiệm sinh thái.

Đã có 05 giống ĐTM mới được đưa vào khảo nghiệm VCU, DUS, đó là: ĐTM 17 -1, ĐTM 1-122, ĐTM 13-8, ĐTM 4-128, ĐTM 4-23, các giống này có đặc tính cơ bản như ngắn ngày (90–95 ngày), thấp cây, chịu phèn, dạng hình đẹp, gạo thon, dài, trong, mềm cơm, năng suất cao hơn so với giống đối chứng IR 50404 hiện đang trồng phổ biến trong vùng. Đây là những giống lúa triển vọng hứa hẹn đem lại những vụ mùa bội thu cho bà con nông dân vùng Đồng Tháp Mười và được Trung tâm đưa vào kế hoạch xin công nhận giống sản xuất thử và giống quốc gia trong thời gian tới.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC


 

Tiềm năng sản xuất các giống lúa khỏe mạnh, kháng bệnh

Tiềm năng sản xuất các giống lúa khỏe mạnh, kháng bệnh

Do dân số của trái đất đáng tiến về con số 9 tỷ, nên nhu cầu về những giống cây lương thực mới khỏe mạnh lớn hơn bao giờ hết.

Những vụ thu hoạch kỷ lục trong điều kiện hoàn hảo cũng sẽ không đủ. Trong một thời đại biến đổi khí hậu, ô nhiễm và sự lây lan mầm bệnh trên toàn cầu, thì các loại hạt mới cũng phải có khả năng đối phó với sự căng thẳng. Hiện nay, các nhà nghiên cứu tại Đại học Công nghệ Michigan đã xác định được một tập hợp gen có thể là chìa khóa cho sự phát triển của thế hệ siêu lúa tiếp theo.

Một phân tích dữ liệu cực lớn của nhà sinh vật học Ramakrishna Wusirika và nghiên cứu sinh tiến sĩ Rafi Shaik đã phát hiện ra hơn 1.000 gen trong lúa, dường như đóng vai trò chính trong việc quản lý phản ứng của nó đối với hai loại căng thẳng khác nhau: căng thẳng sinh học, thường do các sinh vật gây bệnh như vi khuẩn gây ra, và phi sinh học, do các tác nhân môi trường, như thiếu dinh dưỡng, lũ lụt và nhiễm mặn, gây ra.

Thông thường, các nhà khoa học tin rằng phản ứng của thực vật đối với sự căng thẳng về sinh học và phi sinh học được điều chỉnh bởi các bộ gen khác nhau. Tuy nhiên , Wusirika và Shaik phát hiện ra rằng 1.377 gen trong khoảng 3.800 gen liên quan đến phản ứng căng thẳng của lúa đóng vai trò trong cả hai loại căng thẳng này. "Đây là những gen mà chúng tôi cho rằng cùng tham gia vào cuộc nói chuyện giữa sự căng thẳng sinh học và sự căng thẳng phi sinh học," Wusirika cho biết.

Khoảng 70 phần trăm những gen "bậc thầy" này cùng thể hiện, nghĩa là chúng đều hoạt động dưới cả hai dạng căng thẳng. Thông thường, thì các gen khác hoạt động khi có căng thẳng sinh học và sẽ ngưng hoạt động khi sự căng thẳng phi sinh học diễn ra.

Các nhà khoa học đã xem xét phản ứng của các gen đến năm loại căng thẳng phi sinh học điển hình – gồm hạn hán, ô nhiễm kim loại nặng, nhiễm mặn, lạnh và thiếu chất dinh dưỡng – và 5 loại căng thẳng sinh học – nhiễm vi khuẩn, nhiễm nấm, bị côn trùng ăn, bị cỏ dại cạnh tranh và nhiễm tuyến trùng. Tổng cộng có 196 gen cho thấy có nhiều biểu hiện khác nhau đối với các căng thẳng này.

"Các gen đó là những ứng viên tiềm năng để phát triển một giống lúa có khả năng chịu nhiều căng thẳng", Wusirika cho hay.

Tiếp theo, họ sẽ kiểm tra  những phát hiện này. "Chúng tôi muốn làm phân tích thí nghiệm để xem liệu 5 hoặc 10 gen này có hiệu quả như dự đoán hay không", ông cho biết.

FOODCROPS. DẠY VÀ HỌC

Gạo thơm ST ra thế giới

Gạo thơm ST ra thế giới 

Cục Sở hữu trí tuệ đã chứng nhận nhãn hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng” từ cuối năm 2011 cho dòng sản phẩm gạo thơm mang tên ST. Người xây đắp cho thương hiệu này, kỹ sư Hồ Quang Cua, nay đang mong muốn nâng ST lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới. 

Thái Lan làm được, sao mình không làm ?

Tốt nghiệp kỹ sư trồng trọt Trường ĐH Cần Thơ năm 1978, anh Hồ Quang Cua  trở về quê nhà Sóc Trăng, làm việc tại Phòng Nông nghiệp H.Mỹ Xuyên, sau đó được đề bạt làm Phó giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Sóc Trăng. Đến nay, anh đã cùng nhóm cộng sự đi qua chặng đường hơn 20 năm xây dựng thương hiệu gạo thơm ST. 

Từ năm 1991, Hồ Quang Cua đã tham gia nhóm nghiên cứu của Viện Lúa ĐBSCL và ĐH Cần Thơ lo sưu tập, thử nghiệm các giống lúa thơm cổ truyền của Việt Nam, Thái Lan và Đài Loan. Được làm việc cùng các nhà khoa học đầu đàn như GS Võ Tòng Xuân, GS Nguyễn Văn Luật, rồi ra nước ngoài học, anh bắt đầu có ý tưởng làm lúa thơm cao cấp cho Việt Nam, trước hết là cho tỉnh Sóc Trăng.

Dạo đó, anh phát hiện giống lúa thơm nổi tiếng Khao Dawk Mali 105 của Thái Lan là do một cán bộ ở huyện chọn tạo; vậy mà những năm 1992 - 1997, mỗi năm Thái Lan thu gần 1 tỉ USD nhờ xuất khẩu hơn một triệu tấn gạo này. “Họ làm được sao mình lại không làm, trong khi đến cuối thế kỷ 20 mình đã xuất khẩu gạo ổn định và lo được an ninh lương thực rồi?” - Hồ Quang Cua tự vấn rồi cùng nhóm cộng sự và bà con nông dân ở huyện lao vào công việc bất kể ngày đêm. Trong bước đi đầu tiên kéo dài nhiều năm ấy, các anh đã rút ra 3 kết luận hình thành nên cây lúa thơm tương lai: 1/ Quá trình biến dị, lúa có thể cho ra giống mới có phẩm chất cao hoặc dùng làm nguồn lai tạo tiếp; 2/ Việt Nam đất chật người đông, cây lúa thơm phải là cây cải tiến có năng suất cao chứ không thể như Thái Lan, Ấn Độ sử dụng cây lúa mùa cổ truyền năng suất thấp; 3/ Phải đào tạo nhân lực để hình thành đội ngũ nghiên cứu.

Lúc đầu, ít người tán thành những nhận định mới này, nhưng rồi được Bộ Nông nghiệp và lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng khích lệ, dần dần bảy giống lúa thơm bố mẹ được lai tạo, trong đó có gien giống Khao Dawk Mali, giống Tám Xoan ở phía bắc và giống Tào Hương của Sóc Trăng. Tới năm 2013 này, đã có 21 giống ST. Riêng ST20, cho hạt gạo thon dài, cơm mềm dẻo, thơm hương dứa và hương cốm. 

Từ năm 2009, đã có gần 25.000 ha lúa thơm ST được trồng tại Sóc Trăng và hàng vạn héc ta nữa được các tỉnh ven biển khác ở ĐBSCL trồng. Ngoài việc trồng lúa hai vụ, các anh còn giúp nông dân trồng lúa thơm theo các mô hình hành tím - lúa và tôm - lúa. Ông Trà Diên ở xã Viên Bình, huyện Trần Đề, nơi đang làm 2.500 ha lúa ST5, nói: “Tôi làm 23 công cấy tầm lớn hai vụ ST5, mỗi năm lời hơn 150 triệu đồng, gấp đôi lúa IR ngày trước”. Hồ Quang Cua nói: “Các tỉnh ven biển ĐBSCL có thể trồng được vài trăm ngàn héc ta giống ST. Riêng việc trồng lúa thơm ở vuông tôm đã giúp ổn định môi trường, tái tạo sự sống trong đất, làm chậm quá trình thoái hóa đất”.

Trong đào tạo, từ cây lúa thơm ST, đã có 10 kỹ sư làm tiếp các đề tài lên thạc sĩ, riêng anh Trần Tấn Phương đã bảo vệ tiến sĩ hồi tháng 10.2011 chuyên về di truyền với đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa thơm cao sản phục vụ nội tiêu và xuất khẩu”. 

ST ra thế giới, nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi

Cuối năm 2011, đã có 5 đơn vị được Sở NN-PTNT Sóc Trăng trao quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận thương hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng”. Đó là Công ty Gentraco ở Cần Thơ, Công ty lương thực Sóc Trăng, Công ty TNHH Thành Tín, Công ty chế biến gạo chất lượng cao Sóc Trăng và cơ sở sản xuất lúa giống và gạo thơm Mỹ Xuyên. Cũng năm đó, lần đầu tiên, Việt Nam xuất khẩu được hơn 400.000 tấn gạo thơm, chủ yếu là giống Jasmine vì giống ST chưa có nhiều, mới đủ tiêu thụ nội địa.

Tình hình này đã thôi thúc kỹ sư Hồ Quang Cua cùng các đồng sự dấn thân tiếp vào một kế hoạch mới. Họ đang làm đề án “Xây dựng liên minh nông dân và doanh nghiệp dựa trên quan hệ sản xuất mới” với mục tiêu hàng đầu là “tăng thu nhập cho nông dân”. Nông dân trồng lúa thơm ST sẽ tăng thu nhập lên tối thiểu 20% trong năm đầu tiên và tiếp tục tăng trong năm thứ 2 và năm thứ 3 nhờ nắm bắt đầy đủ kỹ thuật canh tác. Cơ sở nào để có dự án này? Anh Cua cho biết giá gạo trắng xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2013 chỉ nhỉnh hơn 400 USD/tấn dẫn tới hiệu quả sản xuất lúa gạo thấp. Trong khi đó, Công ty lương thực Sóc Trăng và Công ty TNHH Trung An ở Cần Thơ đã xuất khẩu gạo ST20 với giá 900 USD/tấn và đang thiếu hàng để bán.

Hồ Quang Cua hỏi: “Vậy ta có nắm được cơ hội này để thâm nhập sâu vào thị trường gạo cao cấp của thế giới không? Và ta có thể tổ chức sản xuất một vài chủng loại lúa đặc thù của Việt Nam, như ST, với mô hình doanh nghiệp liên kết với nông dân?”. Rồi tự trả lời: “Làm được nghĩa là chúng ta tạo được một quan hệ sản xuất mới, hữu cơ giữa nông dân và doanh nghiệp, điều mà Chính phủ vừa phê duyệt trong kế hoạch tái cơ cấu sản xuất lúa của Bộ NN-PTNT”.

Theo các tác giả dự án, gạo thơm ST20 và ST21 là gạo thơm cao cấp, rất được người tiêu dùng trung lưu thành thị ưa chuộng, bán được giá cao, nội địa bình quân 1 USD/kg, xuất khẩu tới 900 USD/tấn, như vậy là gạo Việt Nam bắt đầu cạnh tranh được với gạo thơm cao cấp của Thái Lan. Giờ  đây, nếu mô hình liên kết nông dân - doanh nghiệp được đầu tư làm bài bản ở quy mô lớn hàng ngàn héc ta ngay từ năm đầu, thì chẳng những gia tăng thu nhập ngay cho nông hộ và doanh nghiệp mà còn là mô hình để làm đúng việc liên kết bốn nhà trong cánh đồng mẫu.

“Mong ước cuối cùng của tôi là việc xác lập quan hệ sản xuất mới mang tính bền vững cho chuỗi giá trị, và gạo thơm Sóc Trăng sẽ có ngày được nâng lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới”, kỹ sư Hồ Quang Cua quả quyết như vậy.

FOODCROPS. HỌC MỖI NGÀY 

Tại sao gạo Việt Nam rẻ như bèo

FOODCROPS. Gạo Việt Nam giá rẻ vì chất lượng xuống thấp và chính sách vẫn chưa đủ sức quản lý thông tin thương lái và doanh nghiệp buôn bán gạo. Tuy nhiên với mỗi tỉnh thành, quản lý chất lượng sản phẩm nông nghiệp do chính quyền tự chịu trách nhiệm hay các công ty  tự quản lý thì ai có thể làm chặt chẻ hơn khi thực tế là phải quan tâm việc quản lý từng người liên quan trong khâu thu mua sản phẩm nông nghiệp! Nơi đâu bán sản phẩm gốc nông nghiệp, nơi đó cần có công cụ phản hồi nhanh buộc yêu cầu để phản hồi lại các tín hiệu báo về cơ quan quản lý. Trách nhiệm tạo công cụ phản hồi thông tin phải chăng chỉ thuộc bộ nông nghiệp! Công nghệ thông tin và sản phẩm sáng tạo từ các ngành công nghệ phục vụ trực tiếp lợi ích ngành nông nghiệp là giải pháp cấp thiết, và trình độ áp dụng công nghệ thông tin của nhà nông là trách nhiệm từ nhà nước. Hãy để sản phẩm công nghệ thông tin phục vụ nông nghiệp bùng nổ mạnh hơn ở Việt Nam. Website của tỉnh và doanh nghiệp là công cụ phản hồi hiệu quả nếu biết cách linh họat sử dụng. Quan hệ quản lý minh bạch hóa thông tin hiệu quả nhất là mối quan hệ hai chiều giữa dân và chính quyền. Chính quyền trong dân là bài tóan phải tích cực đổi mới trong thời đại số. 

Tại sao gạo Việt Nam rẻ như bèo

Giá gạo Việt Nam đã tách ra khỏi mặt bằng giá gạo thế giới và trở thành nguồn cung cấp rẻ nhất. Phát biểu của ông Trương Thanh Phong, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam được thông tấn xã Nhà nước và báo chí đưa tin hồi đầu tháng 7, thoạt nghe tưởng đâu gạo Việt Nam cạnh tranh tốt vì giá rẻ. Nhưng không phải vậy, phẩm chất gạo Việt Nam đã xuống thấp đến mức độ khách hàng chỉ chịu mua vì giá quá rẻ. 

Chất lượng xuống thấp

Theo các báo điện tử Pháp Luật TP.HCM và Saigon Tiếp Thị bản tin trên mạng ngày 29/7, ngay cả nước láng giềng Campuchia, hồi sinh từ diệt chủng, nay mới bắt đầu xuất khẩu gạo mà giá gạo 5% tấm còn cao hơn của Việt Nam tới 75 USD/tấn, cụ thể có thời điểm Xứ Chùa Tháp bán gạo 5% giá 480 USD/tấn so với 405 USD/tấn của Việt Nam. Tờ báo trích lời GSTS Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng trường Đại học Tân tạo Long An mô tả, gạo Campuchia có tỉ lệ gạo đồng nhất, loại nào ra loại đó, không phải như Việt Nam một bao gạo 5% tấm nhưng trộn đủ loại trong đó. 

Trong thí dụ điển hình, một nông dân làm lúa thơm ở Cần Thơ mô tả việc thương lái và doanh nghiệp đấu trộn lúa để có lời nhiều hơn.

“Lúa Jasmine 85 so với Thái Lan cũng không thua gì bao nhiêu, thơm ngon dẻo có đủ, nhưng mấy ‘cha’ tham ăn quá xem dân không ra gì hết. Dân sạ giống chất lượng cao, sạ độ thuần rất là thuần, giống nó bằng, nó rặc, không bị lỏng, nhưng mua về mấy ‘cha’ đấu trộn bậy bạ mang tiếng dân, đổ thừa cho dân làm giống không chất lượng cao. Thương lái đấu một mớ, doanh nghiệp đấu một mớ nữa.”

Nông dân quá bức xúc năm nay làm ruộng lời chưa được 10% làm sao mà sống nổi. Trong khi phân bón thuốc trừ sâu của mấy ‘cha’ sản xuất ra thì nhìn ra theo giá thế giới.
-Một nông dân 

Những năm thị trường gạo thế giới cung thấp hơn cầu, thì gạo Việt Nam còn dễ bán. Nhưng nay thị trường thừa cung, nhiều nước tạm ngừng xuất khẩu gạo như Ấn Độ, Pakistan từ năm ngoái đã tham gia thị trường trở lại. Đó là chưa kể những đối thủ tiềm năng như Cămpuchia và Myanmar. Vào đầu tháng 7 vừa qua, gạo 5% tấm của Việt Nam đã rơi xuống đáy phải chào bán với giá 365 USD/tấn, hiện nay tuy báo giá của doanh nghiệp Việt Nam cho thấy giá gạo các loại đã tăng hơn trước nhưng vẫn kém gạo cùng phẩm cấp của Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan từ 50 tới 75 USD/tấn. 

Quá nhiều nguyên do dẫn tới thực tế hiện nay cho nông nghiệp Việt Nam, quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ nhì thế giới nhiều năm liền. Năm 2012 cả nước xuất khẩu 7,7 triệu tấn gạo nhưng thu nhập bình quân của nông dân vựa lúa xuất khẩu đồng bằng sông Cửu Long chỉ hơn 500.000 đồng/người/tháng. Nông dân làm lúa phát biểu:

“Nông dân quá bức xúc năm nay làm ruộng lời chưa được 10% làm sao mà sống nổi. Trong khi phân bón thuốc trừ sâu của mấy ‘cha’ sản xuất ra thì nhìn ra theo giá thế giới không biết sao, giá trong nước thậm chí còn mắc hơn giá u-rê Trung Quốc nhập vô. Nông dân kiểu này nghèo suốt đời luôn, bộ chế độ này không cho nông dân làm giàu, đè đầu không cho ngóc đầu lên. Vậy là nói dân giàu nước mạnh cái nỗi gì, nước giàu dân mạt thì có…xã hội công bằng dân chủ văn minh, dân chủ  chưa thấy chỗ nào, văn minh thì dân thu nhập không cao làm gì phát triển trí thức được…” 

Nhà nước Việt Nam có thể đã hài lòng về việc từ chỗ thiếu lương thực mà trong vòng 20 năm trở thành nước xuất khẩu gạo thứ nhì thế giới và chẳng lắng nghe trước những khuyến cáo rất sớm, đối với vấn đề thay đổi tư duy tiểu nông. TS Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế từ Hà Nội nhận định:

“Nông nghiệp là một trong các trụ đỡ rất quan trọng đối với nền kinh tế của Việt Nam. Còn việc Việt Nam đã khắc phục được nạn thiếu lương thực phải nhập khẩu, rồi phải bán theo định lượng, thậm chí phải bán bo bo để thay gạo thì đã qua rồi và đấy là những thành tựu rất đáng kể. Tuy vậy việc sản xuất lương thực của Việt Nam hiện nay đang có vấn đề là chưa kết hợp được giữa khâu sản xuất với khâu thu mua lưu thông chế biến và xuất khẩu. Giữa khâu sản xuất, khâu thu mua và khâu xuất khẩu này lại chưa có hợp đồng một cách ổn định, vì vậy bị cắt đứt đoạn và hạt gạo Việt Nam phải qua quá nhiều tay thì mới đi đến xuất khẩu được. Cứ mỗi lần như vậy thì những cá nhân thu mua, công ty thu mua đều có một phần lãi, nhưng người nông dân thì ít được lãi. Tôi nghĩ vấn đề ở đây trước hết Việt Nam sẽ phải tổ chức lại sản xuất, phải ký kết hợp đồng giữa người sản xuất và người tiêu thụ, người chế biến và người xuất khẩu.” 

Chính sách cản trở công nghiệp hóa

Chính sách chia đều ruộng đất ở Việt Nam vô hình chung lại là một trong những nguyên nhân cản trở sản xuất nông nghiệp công nghiệp hóa. Trong một lần trả lời chúng tôi, TS Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn từng đề cập tới nhu cầu cấp thiết phải đổi mới, tái cơ cấu thay đổi thể chế nông thôn. Ông nói: 

“… Nếu người nông dân Việt Nam với qui mô 0,6 héc-ta mà lại chia thành 5 tới 15 mảnh ruộng nhỏ và chia nhỏ thành hơn 10 triệu hộ riêng lẻ như hiện nay thì không có tài gì có thể tập hợp lại, có thể đưa ra khối lượng sản phẩm hàng hóa với chất lượng cao và ổn định, đưa đến tay khách hàng đúng hạn và đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn, cũng như không có tài gì mà các ngân hàng, các tổ chức khuyến nông có thể bù đắp nổi chi phí để đưa các dịch vụ phục vụ cho đến tận làng bản xa xôi cho từng người nông dân nhỏ lẻ như thế cả. Đấy không thể là kết cấu của một nền sản xuất hàng hóa lớn được…”

Chất lượng lúa gạo tất nhiên liên quan đến công nghệ sau thu hoạch mà Việt Nam sẽ phải mất nhiều thời gian và tiền bạc nếu muốn tái cơ cấu nông nghiệp, đặc biệt về sản xuất lúa gạo. 

TS Phạm Văn Tấn chuyên gia công nghệ sau thu hoạch ở các tỉnh phía nam từng nói với chúng tôi, Việt Nam làm ra hạt gạo theo qui trình ngược làm giảm chất lượng và thất thoát. Doanh nghiệp mua gạo nguyên liệu của thương lái rồi mới chà bóng để xuất khẩu, thay vì phải mua lúa để có thể trữ lâu dài. TS Phạm Văn Tấn nhận định:

Với qui mô 0,6 héc-ta mà lại chia thành 5 tới 15 mảnh ruộng nhỏ và chia nhỏ thành hơn 10 triệu hộ riêng lẻ như hiện nay thì không có tài gì có thể tập hợp lại.
-TS Đặng Kim Sơn 

“Có khoảng 2,5 triệu tới 3 triệu tấn kho hai mái cũng như nhà bình thường, hầu hết những kho đó đều không bảo đảm yêu cầu kỹ thuật để chứa lúa quá 6 tháng mà chỉ có thể chứa dưới ba tháng. Như thế không thể đáp ứng chiến lược lúa gạo, vì phải chứa lúa hơn 6 tháng mới có thể dự kiến sự biến động của gía cả lúa gạo trên thị trường thế giới, thì lúc đó mới có thể điều tiết được lúc nào bán ra lượng nhiều, lúc nào cần hạn chế, như thế thương mại lúa gạo của Việt Nam mới không bị khách hàng quốc tế ép giá.” 

Chủ trương đẩy mạnh trồng lúa mà không kèm theo phát triển công nghệ sau thu hoạch, hoặc thực hiện rất chậm chạp, đã đưa đến nhiều hậu quả nhất là khi thị trường thế giới suy giảm. 

Tuy vậy, vấn đề để lại nhiều hậu quả nhất lại chính là chính sách tiêu thụ và xuất khẩu gạo mang tính độc quyền. GSTS Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng trường Đại học Tân Tạo Long An vạch rõ điều này trên báo mạng Phunutoday.  Theo đó từ chính phủ đến Bộ Công thương và Bộ NN-PTNT dù có chính sách tự do mậu dịch, nhưng trong thực tế lại giao tất cả quyền hành xuất khẩu cho Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA). Chủ tịch của VFA là ông Trương Thanh Phong lại đồng thời là Tổng giám đốc Tổng công ty Lương thực Miền Nam (Vinafood 2). Trong VFA hai Tổng Công ty Lương thực Nhà nước Vinafood 1 và Vinafood 2 chiếm lĩnh 60% tới 70% thị phần xuất khẩu gạo của cả nước. Các Tổng công ty này luôn luôn có lời vì xuất khẩu gạo giá thấp thì mua vào thấp hơn và hưởng chênh lệch. 

Báo điện tử Đất Việt ngày 24/7 dẫn lời Phó Giáo sư TS Nguyễn Văn Nam nguyên  Viện trưởng Viện nghiên cứu Thương mại (Bộ Công thương) nhận định rằng: “Chính sách hỗ trợ thu mua tạm trữ gạo đang góp phần làm giá gạo Việt Nam rẻ nhất thế giới, danh nghĩa là hỗ trợ nông dân nhưng thực tế  doanh nghiệp xuất khẩu hưởng lợi lớn, còn người nông dân chỉ được chút ít lợi ích gián tiếp.” Theo lời ông Nguyễn Văn Nam, chính phủ hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp  xuất khẩu giúp họ giảm chi phí cho việc thu mua gạo, tức là mua được giá rẻ, và đương nhiên doanh nghiệp cũng sẵn sàng xuất khẩu với giá rẻ mà lợi nhuận không suy giảm. Thêm nữa, nhà xuất khẩu sẵn sàng bán rẻ vì họ có một chân hàng rất dồi dòa trong nước, và họ sẽ tiếp tục xuất khẩu lô thứ 2, thứ 3, tổng hợp lại là lợi nhuận của họ cao hơn nhiều so với dự trữ  và chờ giá cao mới xuất hàng. Vì vậy, chính sách hỗ trợ tạm trữ gạo lại vô tình  đẩy giá xuất khẩu gạo VN xuống thấp. Vơi gía thấp đó lợi ích nhà xuất khẩu không  hề suy giảm, còn người nông dân chịu mọi thua thiệt, càng làm càng lỗ. 

Vẫn theo Đất Việt Online, PGS.TS Nguyễn Văn Nam nhấn mạnh, bản than nông dân cần bán lúa, còn chương trình lại hỗ trợ mua gạo, như vậy điều gọi là ‘lợi ích cho người nông dân’ chỉ là một con bài chính trị nhằm thực hiện lợi ích thiết thực và lớn lao cho các doanh nghiệp xuất khẩu.  Mặt khác xưa nay chỉ có thể  dự trữ thóc lúa thì mới có thể duy trì  được chất lượng hạt gạo, còn dự trữ gạo chỉ có làm cho chất lượng hạt gạo giảm, dự trữ càng lâu chất lượng càng giảm, kéo theo giá trị giảm.

FOOD CROPS. HỌCMỖI NGÀY

Việt Nam lần đầu giải mã hoàn chỉnh hệ gen cây lúa

Việt Nam lần đầu giải mã hoàn chỉnh hệ gen cây lúa
Nguyễn Bích Thủy - Vietnam+

Ngày 28/8 tại Hà Nội, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Đại sứ quán Vương quốc Anh tổ chức Hội thảo công bố kết quả nghiên cứu giải mã gen một số giống lúa bản địa của Việt Nam với sự tham dự của đông đảo các nhà khoa học, nhà quản lý và các doanh nghiệp.

 “Giải mã genome một số giống lúa bản địa của Việt Nam” là Dự án trong khuôn khổ Chương trình hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ giữa Bộ Khoa học và Công nghệ với Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Sự sống và Công nghệ sinh học của Vương quốc Anh.

 Bộ Khoa học và Công nghệ đã giao nhiệm vụ nghiên cứu cho Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam. Nhóm các nhà khoa học Việt Nam đến từ các viện nghiên cứu về lúa đã hợp tác với các nhà khoa học của Vương quốc Anh tiến hành giải mã gien 36 giống lúa bản địa của Việt Nam. Dự án được thực hiện trong thời gian 30 tháng, từ tháng 1/2011 đến tháng 6/2013.

 Phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Việt Thanh cho biết, đây là lần đầu tiên Việt Nam giải mã hoàn chỉnh hệ gen đầy đủ của một loại thực vật bậc cao rất quan trọng là cây lúa.

 Việc giải mã hoàn chỉnh hệ gen của cây lúa đã mở ra hướng nghiên cứu mới về genome học và ứng dụng tin sinh học để khai thác trình tự genome giúp các viện nghiên cứu, trường đại học và các nhà chọn giống sử dụng trong các nghiên cứu về bảo tổn nguồn gen, xác định chức năng gen cũng như chọn tạo giống có năng suất, chất lượng cao, có khả năng chống chịu các loại sâu bệnh và điều kiện bất lợi sinh học và phi sinh học.

 “Thông qua dự án hợp tác này, các nhà khoa học Việt Nam đã tiếp cận với các phương pháp giải mã genome tiên tiến, các thiết bị hiện đại nhất thế giới, từ đó tiến tới chủ động giải trình tự, xây dựng các trình duyệt genome, tạo lập cơ sở dữ liệu genome đầy đủ của các giống lúa Việt Nam,” Thứ trưởng Trần Việt Thanh nhấn mạnh.

 Thứ trưởng Trần Việt Thanh cho biết, cùng với Vương quốc Anh, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sẽ hỗ trợ nhóm các nhà khoa học Việt Nam hợp tác với các nhà khoa học của Anh tiếp tục giải mã những giống lúa có các đặc tính quan trọng, xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu, chọn tạo giống lúa, tiến tới xây dựng Phòng thí nghiệm quốc gia về phân tích genome cho lúa và các cây trồng khác của Việt Nam.

 Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Vương quốc Anh tại Việt Nam Antony Stokes đánh giá cao kết quả hợp tác chương trình về khoa học và công nghệ giữa Việt Nam và Vương quốc Anh mà điển hình là Dự án “Giải mã genome một số giống lúa bản địa của Việt Nam”.

 Sự hợp tác hiệu quả giữa hai nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ đã góp phần làm sâu sắc thêm mối quan hệ hợp tác tốt đẹp đã được nhân dân hai nước vun đắp trong suốt chiều dài 40 năm qua.

 “Cá nhân tôi rất tự hào vì nước Anh đã có những đóng góp nhỏ bé vào thành công của Dự án. Trong thời gian tới, các nhà khoa học của Vương quốc Anh sẽ tiếp tục hợp tác với Việt Nam trong giai đoạn 2 của Dự án 'Giải mã genome một số giống lúa bản địa của Việt Nam',” Đại sứ Antony Stokes khẳng định.

 Phó giáo sư, tiến sỹ Lê Huy Hàm, Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam cho biết, giai đoạn 2 của Dự án sẽ tiếp tục giải mã bộ gen của 600 giống lúa; khai thác sử dụng dữ liệu đã có, đào tạo nhân lực tiến tới làm chủ hoàn toàn việc giải mã, khai thác, sử dụng công cụ genome trong chọn tạo giống cây trồng…/.

Nghiên cứu về bệnh đạo ôn trên cây lúa chỉ ra cách thức nấm bệnh xâm nhập cây trồng

FOODCROPS. Nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae giết chết và làm giảm sản lượng cây lúa với ước tính làm mất sản lượng gạo đủ để nuôi 60 triệu người mỗi năm. Gạo và lúa mì là hai loại lương thực quan trọng nhất trên toàn thế giới, việc nắm rõ các bệnh này là vô cùng quan trọng để đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu.

Nghiên cứu về bệnh đạo ôn trên cây lúa chỉ ra cách thức nấm bệnh xâm nhập cây trồng

Như một kẻ thù tàng hình, bệnh đạo ôn xâm nhập các thửa ruộng lúa trên thế giới, giết chết các cây lúa và cắt giảm sản lượng của một trong những nguồn lương thực quan trọng nhất toàn cầu. Giờ đây, một nghiên cứu của một nhóm các nhà khoa học đã làm sáng tỏ về cách loại nấm gây bệnh đạo ôn Magnaporthe oryzae xâm nhập các mô thực vật. Phát hiện này là một bước tiến trong việc kiểm soát dịch bệnh ước tính làm mất đi sản lượng gạo đủ để nuôi 60 triệu người mỗi năm.

Nhóm nghiên cứu từ phòng thí nghiệm Halpin tại Đại học Exeter hợp tác với Đại học bang Kansas và Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ sinh học Iwate ở Nhật Bản phát hiện ra rằng, nấm gây bệnh đạo ôn đã phát triển hai hệ thống bài tiết riêng biệt tạo điều kiện cho nấm xâm nhập vào cây lúa. Các kết quả của nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature Communications.

Giáo sư sinh học Nick Talbot tại Đại học Exeter cho biết: “Phát hiện này cho thấy có hai cách loại nấm gây bệnh đạo ôn có thể tiết ra các protein xâm nhập vào cây trồng. Đây là một bước tiến lớn trong nghiên cứu về bệnh cây trồng và nghiên cứu này có thể giúp các nhà khoa học đưa ra những chiến lược mới kiểm soát dịch bệnh trên cây trồng đóng vai trò quan trọng đối với an ninh lương thực. Đây là một dự án hợp tác quốc tế được thực hiện trong hai năm qua”.

Barbara Valent, giáo sư chuyên nghiên cứu về các dịch bệnh thực vật tại Đại học bang Kansas cho biết: “Căn cứ vào kết quả từ công trình nghiên cứu, chúng ta có thể ngăn chặn loại nấm gây bệnh mà không làm hại các loại nấm có lợi khác”.

Các nhà nghiên cứu cho biết, để gây ra các bệnh thực vật, vi sinh vật gây bệnh tiết ra protein vào mô của cây trồng. Các protein này ức chế miễn dịch của thực vật và hỗ trợ sự phát triển của mầm bệnh. Mục tiêu của nghiên cứu là tìm hiểu hệ thống bài tiết khác nhau ở nấm có tác dụng hỗ trợ cuộc xâm nhập của chúng vào cây chủ.

Yasin Dagdas và Yogesh Gupta, hai trong số các tác giả của nghiên cứu, là các nhà khoa học có uy tín tại Đại học Exeter. Bệnh đạo ôn là một mối đe dọa đối với an ninh lương thực toàn cầu và đe dọa sản lượng lúa mì tại Brazil. Bệnh có xu hướng lan rộng trên khắp Nam Mỹ. Gạo và lúa mì là hai loại lương thực quan trọng nhất trên toàn thế giới, việc nắm rõ các bệnh này là vô cùng quan trọng để đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, nấm Magnaporthe oryzae gây bệnh đạo ôn đã phát triển một hệ thống bài tiết tác động vào bên trong tế bào thực vật. Việc xác định cách thức của quá trình này sẽ nâng cao hiểu biết của con người về cách vi sinh vật gây bệnh phát triển và đưa ra các giải pháp quan trọng trong việc kiểm soát bệnh đạo ôn.

FOOD CROPSDẠY VÀ HỌC 

Tranh cãi toàn cầu quanh Gạo vàng

Tranh cãi toàn cầu quanh gạo vàng
XH - Tiasang, theo IRRI và NPR

Tranh cãi về “Gạo vàng” (Golden Rice), loại gạo được biến đổi gene để chứa beta-carotene là tiền tố của vitamin A, bắt đầu từ một cuộc thảo luận vào năm 1984, khi ngành công nghệ sinh học còn trong giai đoạn trứng nước, chưa hề có ngũ cốc biến đổi gene. Các nhà khoa học chỉ mới cố tìm kiếm cách phát hiện các gene và di chuyển gene giữa các sinh thể khác nhau.
 
Một số người làm việc tại Quỹ Rockefeller nghĩ rằng những kỹ thuật này may ra có thể giúp cho nông dân ở các nước nghèo một vụ thu hoạch lớn hơn. Vì vậy, họ tổ chức một cuộc họp tại Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) ở Philippines để thảo luận về ý tưởng này.

Gary Toenniessen, người phụ trách chương trình công nghệ sinh học của Quỹ Rockefeller vào thời điểm đó, kể lại, rất nhiều người tham gia cuộc họp đều rất hoài nghi về công nghệ sinh học. Họ là những nhà chọn giống, bậc thầy về cải tạo cây lúa theo cách truyền thống.

“Một tối nọ, sau phiên họp chính thức, một nhóm các nhà nhân giống tụ tập nhau tại nhà khách IRRI, nhâm nhi một vài cốc bia,” Toenniessen kể. Sau khi nghe chán những lời chê bai, hoài nghi, Toenniessen bèn lên tiếng rằng giả như công nghệ này tiến triển được, và nếu người ta có thể cấy bất kỳ gene nào người ta muốn vào gạo, thì “Các ông sẽ thích cấy gene gì vào gạo?” Người thì nói gene chống bệnh, kẻ thì đề nghị gene chịu hạn. Họ hỏi đến ý kiến của nhà lai tạo Peter Jennings, một nhân vật huyền thoại trong nhóm tạo giống mới. Ông từng tạo ra giống lúa IR8, có lẽ là giống lúa nổi tiếng nhất trong lịch sử trồng lúa, tạo ra cuộc cách mạng xanh trong trồng lúa nước châu Á trong những năm 1960. Jennings đề xuất: “Gạo ruột vàng”. Toenniessen nhớ lại: “Ý kiến đó làm tất cả mọi người ngạc nhiên. Vì vậy, tôi hỏi ngay tại sao?”.

Jennings giải thích rằng ruột gạo màu vàng là dấu hiệu sự hiện diện của beta-carotene – tiền tố của vitamin A. Jennings cho biết, ông đã mất nhiều năm để tìm kiếm giống gạo này nhưng thất bại. Loại gạo trắng thông thường không có chất dinh dưỡng quan trọng đó, và đó là một vấn đề lớn.

“Khi trẻ em cai sữa, họ thường thay sữa bằng cháo gạo. Và nếu thiếu beta-carotene hoặc vitamin A trong thời gian cai sữa, thì trẻ sẽ bị ảnh hưởng suốt đời.” Toenniessen kể lại và thừa nhận đã bị thuyết phục. Quỹ Rockefeller bắt đầu một chương trình nhằm mục đích tạo ra, thông qua công nghệ, những gì Jennings đã không thể tìm thấy trong tự nhiên. Một mạng lưới toàn cầu của các nhà khoa học tại nhiều viện nghiên cứu phi lợi nhuận cũng khởi sự với đề tài này.

Bước đột phá thực sự đầu tiên là vào năm 1999. Các nhà khoa học ở Thụy Sĩ đã chèn được hai gene để lúa tạo ra được beta-carotene. Một vài năm sau, các nhà nghiên cứu khác đã tạo ra một phiên bản mới còn tốt hơn nữa.

Chỉ cần ăn một bát cháo Gạo vàng này là đủ 60% nhu cầu hằng ngày của trẻ em về vitamin A.

Toenniessen, nay là giám đốc quản lý Quỹ Rockefeller nói: “Đó là một sản phẩm tuyệt vời! Và hơn nữa, nó rất đẹp. Nó trông vàng óng giống như nghệ tây.“ Tuy nhiên không phải ai cũng đồng tình như vậy. Chẳng hạn, chỉ một vài tháng trước đây đã xảy ra một sự kiện ầm ĩ. Nguyên do, một số nhà nghiên cứu do Mỹ tài trợ đã công bố kết quả của một nghiên cứu dinh dưỡng cho thấy cơ thể của con người dễ dàng hấp thụ beta-carotene trong cơm Gạo vàng. Kết quả này thu được từ những thí nghiệm của họ trên trẻ em Trung Quốc. Thông tin này tưởng rằng sẽ được đón nhận một cách nồng nhiệt. Thế nhưng, các nhóm môi trường Greenpeace (Hòa bình Xanh) ngay lập tức lên án, đây là một vụ bê bối.

“Mọi người đều tức giận, thực sự tức giận về những thử nghiệm này. Họ đã sử dụng trẻ em Trung Quốc như những con lợn sữa!“, ông Wang Jing, một nhà vận động cho tổ chức Hòa bình Xanh của Trung Quốc tuyên bố. Ngay lập tức Chính phủ Trung Quốc đã phản ứng. Họ trừng phạt ba nhà khoa học Trung Quốc là đồng tác giả của nghiên cứu, đuổi việc ngay lập tức ba người này.

Trong một thông báo, nhà chức trách Trung Quốc nói rằng các nhà nghiên cứu đã không làm đầy đủ thủ tục để được cấp phép trước khi thực hiện thử nghiệm nghiên cứu. Hơn nữa, các nhà khoa học chỉ nói với các em và cha mẹ của các em, rằng đây là một loại gạo đặc biệt có hàm lượng beta-carotene cao, nhưng họ không nói rằng gạo này đã được biến đổi gene.

Ông Wang lên án: “Họ đã che giấu sự thật rằng Gạo vàng là một loại ngũ cốc biến đổi gene”.

Một số người cho rằng đây chỉ là vấn đề của các ý kiến khác nhau về sản phẩm biến đổi gene trên thế giới mà thôi. Nhưng sự thật, lý do mà Gạo vàng trở thành nguyên do tranh cãi ầm ĩ nhất thế giới về ngũ cốc biến đổi gene thời gian gần đây lại nằm ở chỗ khác. Đó là chuyện hạt Gạo vàng sẽ mang lại lợi ích lớn nhất cho ai.

Bà Neth Dano đang làm việc cho Tập đoàn ETC ở Philippines, đại diện cho nhóm chủ trang trại nhỏ, cho rằng mục đích chính của ngũ cốc biến đổi gene là để kiếm lời chứ không phải để trợ giúp con người.

“Một nhóm công ty đã gặt hái được hàng tỷ USD lợi nhuận nhờ bán hạt giống biến đổi gene và thuốc bảo vệ thực vật độc quyền ở các nước đang phát triển… Tôi không có ý nói tạo ra Gạo vàng chỉ để tuyên truyền trong công chúng. Phải thừa nhận là Gạo vàng nhằm mục đích và thực sự hỗ trợ được cho những người bị suy dinh dưỡng – nhưng đó không phải là một cách hỗ trợ tốt nhất. Nó tốn kém và ít hiệu quả hơn so với các chương trình dinh dưỡng truyền thống. Gạo này vì vậy hiện nay chỉ có tác dụng chủ yếu là để đánh bóng hình ảnh của công nghệ sinh học mà thôi,” bà Neth Dano khẳng định.

Bà Dano lo lắng cũng có lý của nó, vì gạo là loại ngũ cốc có sản lượng lớn nhất trên thế giới, và hiển nhiên tác động và lợi nhuận mang lại là khổng lồ nếu ai khống chế được hạt giống.

Nói cho cùng thì có hai động cơ thúc đẩy cho nỗ lực tạo ra Gạo vàng: một là để Hỗ trợ nhân loại và hai là để tạo động lực phát triển công nghệ sinh học. Nhìn vào tiểu sử của người đàn ông hiện đang lãnh đạo dự án tạo ra Gạo vàng chúng ta sẽ thấy rõ sự kết hợp cả hai động lực. Đó là TS Gerard Barry, người gốc Ireland, đã dành hơn 20 năm tại St. Louis làm việc cho Monsanto, công ty đi tiên phong trong các cây trồng biến đổi gene. Ông là tác giả số một của những bằng sáng chế có giá trị nhất của Monsanto. Ông đã tìm ra gene cây trồng chống chịu với thuốc diệt cỏ. Gene này đã được cấy vào ngô, đậu tương và bông và đang được gieo trồng trên hàng trăm triệu hecta. Trên đường tìm tòi, Barry cũng để ý đến cây lúa.

Mười năm trước, Barry đã rời bỏ Công ty Monsanto và chuyển đến IRRI. Công việc của ông bây giờ là chăm sóc việc đưa Gạo vàng từ phòng thí nghiệm ra cánh đồng đại trà. Nhưng trước khi nông dân có thể chạm tay vào Gạo vàng, các chính phủ ở mỗi quốc gia cần phải chuẩn thuận rằng nó an toàn. Cuối năm nay, mạng lưới quốc tế các nhà nghiên cứu Gạo vàng sẽ đệ đơn xin chấp thuận của Chính phủ Philippines, sau đó đến lượt Bangladesh.

Tuy nhiên, đó chỉ mới là bước đầu tiên. Họ sẽ phải tung ra một chiến dịch tiếp thị cho Gạo vàng, và chiến dịch tiếp thị này cần phải đến được những người nghèo nhất trong những ngôi làng xa xôi nhất.

“Gạo vàng tốt cho tất cả mọi người, nhưng có một số người [người nghèo] thì cần nó hơn,” Barry nói. “Công việc của chúng tôi là phải bảo đảm rằng những người đã tiếp xúc với Gạo vàng hiểu được giá trị của Gạo vàng, và yêu cầu phải có Gạo vàng”.

Cuộc tranh cãi chung quanh Gạo vàng sẽ còn rất gay gắt, vì cho đến nay những giống chuyển gene trồng đại trà chủ yếu chỉ dành cho chăn nuôi và cho công nghiệp. Bây giờ mới động đến lúa gạo, thức ăn chủ lực của con người. Chưa biết kết quả sẽ ra sao, chúng ta hãy chờ xem!

FOOD CROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

 

Tháo gỡ nghịch lý trong nông nghiệp

Tháo gỡ nghịch lý trong nông nghiệp
Theo Tia sáng

alt

Cho rằng các khâu mắt xích trong nền sản xuất nông nghiệp đều "có vấn đề", từ chính sách, người nông dân, doanh nghiệp đến thị trường xuất khẩu, GS Võ Tòng Xuân bàn giải pháp tái cấu trúc lại.

Cầm cố gạo

Giáo sư Võ Tòng Xuân nói:

Tôi xin kể lại câu chuyện này. Cách đây khoảng 15 năm, có một công ty kinh doanh gạo của Mỹ hợp tác với một công ty kinh doanh lương thực cấp Trung ương làm gạo xuất khẩu. Họ đặt mấy điểm thu mua ở mấy vùng nhiều lúa, mua trực tiếp của nông dân. Nông dân mang lúa tươi đến, có giấy chứng nhận là lúa IR 64 họ mua giá cao hơn các doanh nghiệp nhà nước ta mua. Mua gạo xong họ đem về sấy. Họ xuất được giá 350 USD/tấn trong khi các doanh nghiệp Việt Nam chỉ xuất được 180 USD/tấn.

Nhiều ý kiến cho rằng, doanh nghiệp nước ngoài đang "giết" chết doanh nghiệp Việt Nam ngay trên sân nhà. Ông chủ tịch tỉnh lúc bấy giờ hỏi ý kiến tôi, tôi nói: "Phải thưởng huân chương cho họ vì họ mua cho nông dân giá cao!". Ông chủ tịch có vẻ băn khoăn vì nhiều doanh nghiệp đề nghị không cho mua trực tiếp, phải mua qua doanh nghiệp Việt Nam. Một lúc sau vị chủ tịch hỏi, có thể để doanh nghiệp mình bán giá cao được không. Tôi trả lời thẳng: "Còn lâu doanh nghiệp Việt Nam mới bán được giá như họ bởi họ có thương hiệu, tên tuổi, làm chặt chẽ chứ không như ta làm".

Cho đến nay đã 15 năm rồi nhưng chưa có doanh nghiệp xuất khẩu gạo nào của ta ý thức được tầm quan trọng của gạo xuất khẩu là phải rặt, tức chỉ một loại giống!

Giống nào cũng vậy, nếu được làm tốt, bảo quản tốt, xay ra hạt nguyên sẽ có giá cao!

Để đạt được chất lượng gạo như giáo sư vừa nói, ta cần phải thay đổi như thế nào?

Theo tôi, dứt khoát không thể sử dụng thương lái như bấy lâu nay làm trung gian mua lúa của nông dân cung ứng cho doanh nghiệp. Nguyên nhân là thương lái không thể bảo quản lúa đúng tiêu chuẩn từ đồng ruộng về tới kho của công ty.

Ở Thái Lan hoàn toàn không có tầng lớp thương lái như ở ta. Ở các tỉnh trồng lúa, Bộ Thương mại Thái có mạng lưới kho rất lớn, phân bổ đều. Các kho này được trang bị đầy đủ phương tiện kỹ thuật để đảm bảo giữ chất lượng lúa để vào. Nông dân trước khi vào vụ sản xuất, phải khai báo giống với nhà nước và được chấp nhận mới làm. Đến kỳ  thu hoạch, nông dân đem lúa nhập vào kho kèm theo chứng nhận giống. Quản lý kho đại diện cho nhà nước sẽ xuất cho ngân phiếu trị giá tương đương số lượng lúa gửi vào. Vậy là nông dân có tiền xài. Nếu sau này giá lúa lên, sẽ được hưởng thêm. Phần lớn giá sẽ lên vì thời điểm thu hoạch tập trung, cung lớn nên giá sẽ giảm.

Nhà nước sẽ bán lúa trong kho cho các công ty xuất khẩu gạo nếu họ mua giá cao thông qua đấu thầu.

Chính sách này gọi là "cầm cố gạo" (Mortgage) rất thuận lợi cho nông dân.

Nhiều công ty xuất khẩu gạo của Thái rất 'khôn', họ tổ chức vùng nguyên liệu và có kho. Nhưng nông dân vẫn khoái "gửi" vào kho của nhà nước hơn.

Chuyên môn hóa theo chuỗi giá trị

Ở ta, quan hệ doanh nghiệp xuất khẩu gạo và nông dân giống như 2 người đắp chung tấm chăn hẹp. Năm nào giá thị trường tốt, nông dân còn được "đắp" một chút; năm nào khó khăn, nông dân chẳng còn gì để "đắp". Theo giáo sư, phải tổ chức lại như thế nào để không còn "kẻ đắp chăn", kẻ kia phải "chịu lạnh lùng" mãi thế này, mặc dù Chính phủ đã có Quyết định "liên kết 4 nhà" 5 năm nay rồi?

Quyết định 80 của Chính phủ về liên kết 4 nhà chưa xử lý được căn cơ nên chưa được 2 bên nông dân và doanh nghiệp tôn trọng. Khi giá lúa cao, ông nông dân bán mất cho ai trả giá cao. Còn khi giá thấp, ông doanh nghiệp bỏ mặc nông dân, tìm chỗ mua rẻ hơn. Chẳng có gì là "liên" là "kết" cả.

Cần phải để doanh nghiệp và nông dân vào cùng chuỗi giá trị. Doanh nghiệp căn cứ vào thị trường và loại gạo, phải tổ chức cho nông dân suất xuất. Trong quá trình nông dân sản xuất, doanh nghiệp cung ứng phân, thuốc trừ sâu. Các nhà khoa học tham gia huấn luyện, đào tạo nông dân theo quy trình GAP. Quy trình GAP sẽ giúp cho nông dân dùng ít thuốc, phân bón nhưng cho năng suất cao hơn.

Sản phẩm thu hoạch, doanh nghiệp chịu trách nhiệm đưa xà lan, ghe tàu vận chuyển về kho để sấy theo đúng phương pháp. Nhờ vậy, tỷ lệ gạo nguyên sẽ cao hơn nhiều. Thông thường tỷ lệ gạo nguyên cao hơn 1% thì tiền bán cao hơn 5%!


Lâu nay tỷ lệ lúa xay ra gạo chỉ 50%. Nhưng qua trình như trên tỷ lệ gạo xay ra đạt tới 66%, mức chênh lệch rất lớn.


Như vậy, mối liên kết này rất chặt chẽ, cả hai cùng có lợi, chứ không còn bên này ép bên kia. Nhờ tiết giảm được chi phí rất nhiều, tăng hiệu quả khâu chế biến nên hiệu quả cuối cùng cao hơn nhiều lắm.


Xin được ngắt lời giáo sư, mô hình "chuỗi liên kết" giáo sư vừa nói là mới nghiên cứu được, đang ở cấp độ lý thuyết hay đã...

Đã thực hiện ở nhiều nơi rồi chớ! Những con số tôi nêu ra ở trên là con số căn cứ vào kết quả mới áp dụng xong ở vài nơi rồi. Ở đây tôi chỉ nói vắn tắt thôi chứ đi sâu vào còn nhiều nội dung lắm. Nhưng, tôi xin khẳng định lại, phải để vào "chuỗi giá trị" như vậy thì thực sự mới có liên kết chặt chẽ và công bằng được.

Về vấn đề an ninh lương thực, theo giáo sư nước ta có cần phải giữ 3,8 triệu ha trồng lúa như hiện nay để rồi hàng năm phải vất vả bán 7 - 8 triệu tấn gạo mà nông dân chẳng được lợi gì như năm nay?

Về mặt an ninh lương thực thì hoàn toàn yên tâm, chẳng có vấn đề gì. Chỉ sợ mấy ông doanh nghiệp đầu cơ như hồi năm 2008 gây sốt gần cả tháng thôi. Hàng năm ta sản xuất ra dư thừa xuất khẩu cả 7 - 8 triệu tấn mà cứ "la làng" là "an ninh lương thực" là không thuyết phục đâu!

Vậy sao không rút bớt diện tích để trồng cây gì khác có hiểu quả hơn trồng lúa? Giáo sư có nghĩ đến kịch bản như vậy không?

Tôi cũng suy nghĩ và tính toán rồi. Theo tôi, ở miền Bắc sản xuất lúa gạo chi phí cao, chất lượng không bằng miền Nam, nên chăng rút bớt diện tích trồng lúa ở miền Bắc chuyển qua trồng khoai tây! Sản lượng gạo thiếu thì điều chuyển từ miền Nam ra.

Ta đang có giống khoai tây rất tốt, ăn ngon. Khoai tây ở Việt Nam ta khác với bên Âu Mỹ. Bên xứ họ vụ khoai tây kết thúc vào khoảng tháng 9 tháng 10 trước khi mùa đông băng tuyết đến. Họ phải trữ khoai tây trong tủ lạnh để dùng 4 - 5 tháng. Miền Bắc nước ta trồng được vụ đông, thu hoạch xong ta bán cho rất nhiều nước đang bị băng tuyết che phủ. Khoai tây của ta tươi, chất lượng cao, ăn ngon.

Vấn đề là Nhà nước phải giao cho cơ quan có trách nhiệm khảo sát, xác định thị trường, tìm được khách hàng rồi về tổ chức cho bà con nông dân sản xuất khoai tây. Tôi nghĩ, làm được vậy thì người trồng khoai tây cũng có lợi tức cao mà người trồng lúa, người nông dân cũng có lợi tức cao!


Xin cảm ơn Giáo sư!

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Viện lúa quốc tế IRRI và giải pháp giống lúa mới

FOODCROPS. Đi tìm giải pháp hiệu quả cho thời gian, đó là những gì mà các chuyên gia và nhà nghiên cứu ở viện lúa quốc tế IRRI đang làm khi mà thách thức từ điều kiện thời tiết đang dần trở nên khắc nghiệt hơn. Gene Sub1 sẽ giúp cây lúa ngưng tăng trưởng để có thể cầm cự đến 19 ngày trong điều kiện ngập hay với gen Saltol thì khả năng chống mặn thời kỳ đầu tăng trưởng của cây lúa sẽ được cải thiện và tất cả điều đó cũng chỉ là một trong những giải pháp. Việc các giống lúa có khả năng kép hay giải pháp giống lúa “3 trong 1” đang trở thành một trong những mục tiêu theo đuổi của họ hiện nay. 

alt 

Đi tìm giống lúa “3 chống”

Một giống lúa có khả năng thích ứng với mọi điều kiện khí hậu khắc nghiệt như hạn hán, ngập lụt, nhiễm mặn... là thách thức đang được các nhà nghiên cứu ở Viện Lúa quốc tế (IRRI) tại Philippines tập trung nghiên cứu.

Dưới mái nhà kính có độ ẩm được kiểm soát chặt chẽ, Glenn Gregorio - chuyên gia nghiên cứu của IRRI - đang cúi gập người trên một giá đỡ có nhiều ô như tổ ong. Ở mỗi ô trong số 86 ô tổ ong ngập trong nước mặn này là hai hạt lúa đã nảy mầm. Ngọn những thân non mạnh khỏe thì có màu xanh, còn ngọn những thân non khác lại có màu vàng úa.

Lúc này nhóm nghiên cứu của ông đang thử nghiệm nhiều giống lúa chống mặn, như giống lúa FL 478 đang cho ngọn màu xanh, chịu mặn, có thể được chọn để gieo trồng đại trà ở Philippines. “Ở đây, thời tiết và độ ẩm là lý tưởng cho cây lúa. Không hề có bệnh hay sâu rầy” - nhà nghiên cứu này cho biết. Ông đã làm việc tại IRRI từ 1/4 thế kỷ qua để tìm kiếm những giống lúa chống mặn. “Nếu cây lúa chết thì đó chính là do bị nhiễm mặn”.

Nhiễm mặn, khô hạn, ngập úng, thời tiết khắc nghiệt... Đúng là đang có nhiều vấn đề mà các nhà nghiên cứu ở IRRI phải đối phó do sự thay đổi khí hậu gây ra cho cây lúa. Việc tìm ra những giống lúa có khả năng thích nghi với môi trường thời tiết đang biến đổi đã trở thành một trong những trọng tâm nghiên cứu của IRRI kể từ khi được thành lập vào năm 1960 tại Los Banos, cách Manila khoảng 63km về phía đông nam.

Viện nghiên cứu lúa này, nơi có đến cả trăm nhà nghiên cứu thuộc đủ mọi quốc tịch khác nhau đang làm việc, là một trong số 15 trung tâm nghiên cứu dưới sự phối hợp của nhóm tư vấn nghiên cứu nông nghiệp quốc tế.

61 triệu ha gieo trồng bị đe dọa ở châu Á

Lúa gạo là thực phẩm cơ bản cho hơn 3 tỉ người ở châu Á. “Vậy mà chỉ riêng ở Nam Á và Đông Á đã có đến 23 triệu ha đất trồng lúa bị hạn hán, 22 triệu ha bị ngập lụt và 16 triệu ha đất bị nhiễm mặn đe dọa” - ông Abdelbagi Ismail, người phụ trách chương trình nghiên cứu của IRRI về giống lúa có khả năng chịu ngập do Quỹ Bill và Melinda Gates tài trợ, cảnh báo. “Cần phải nhanh chóng có câu trả lời trước tình hình biến đổi khí hậu hiện nay” - nhà nghiên cứu người Sudan này bức xúc.

Khi bị ngập hoàn toàn dưới nước, cây lúa sẽ tự tăng tốc tăng trưởng bằng cách kéo dài thân và lá để tìm cách tiếp xúc với khí trời, bởi nếu không thể thì lúa sẽ chết sau khoảng 15 ngày. Trừ phi nó được cấy loại gen Sub1, một loại gen được phát hiện vào năm 1996 ở một số giống lúa cũ. “Trong trường hợp bị ngập úng, gene Sub1 sẽ giúp cây lúa ngưng tăng trưởng để có thể cầm cự đến 19 ngày - ông Abdelbagi giải thích và chỉ vào những hình ảnh một mảnh đất trồng lúa bị ngập lụt tàn phá nặng nề ở Ấn Độ bên cạnh một mảnh đất khác xanh tốt được trồng giống lúa chống ngập - Ngay khi nước lũ rút, tác động của gene này cũng kết thúc và cây lúa tăng trưởng trở lại”.

Nhờ những kỹ thuật phân tích lai tạo và chọn gene bằng phương pháp sinh học, chỉ trong vài năm qua IRRI đã có thể đưa ra nhiều giống lúa chống ngập được cấy gene Sub 1. Giống lúa Swarma Sub 1 được phân phối khắp Ấn Độ từ năm 2009 và đã có hơn 3 triệu nông dân nước này chọn gieo trồng, hơn 1 triệu ở Bangladesh. Giống lúa này dù là trong môi trường bị ngập úng vẫn cho năng suất thu hoạch 1-3 tấn/ha.

Phát triển giống lúa “3 trong 1”

Dù không là hiện tượng dễ nhìn thấy như ngập lụt, song ngập mặn do việc khai thác quá mức các tầng nước ngầm hay do mực nước biển dâng cao cũng đang gây ra những thiệt hại khủng khiếp không kém đối với lúa. Lần này, các nhà nghiên cứu ở IRRI đang tìm cách cấy một loại gen chống mặn, có tên là Saltol, vào giống lúa địa phương của Ấn Độ.

Các loại giống chống mặn được phát triển ở IRRI hiện còn trong giai đoạn thử nghiệm, và gene Saltol mới chỉ có khả năng bảo vệ cây trồng ở thời kỳ đầu tăng trưởng, nhưng ông Glenn Gregorio rất hi vọng khi “những thử nghiệm được thực hiện ở Hàn Quốc đang cho thấy việc trồng các giống lúa này thậm chí còn cho phép khử mặn, ít ra là một phần, đất trồng”.

Các nhóm nghiên cứu của IRRI cũng đưa ra nhiều giống lúa chống hạn. “Thế nhưng, các giống lúa này hiện còn cho năng suất khá thấp - nhà nghiên cứu Ấn Độ B.P. Mallikarjuna Swarny nhìn nhận - Mục tiêu của chúng tôi là tìm cách kích hoạt loại gene chống hạn này trong các giống lúa hiện đã được cấy gen để cải thiện hơn về mặt năng suất”. Các nhà nghiên cứu đang tạo ra những điều kiện khô hạn khắc nghiệt trên một số mảnh đất trong số 252ha của IRRI.

Trong khi đó, nhà nghiên cứu Glenn Gregorio đang lập nên những “phòng tra tấn” như cách ông mô tả là nhận chìm cây lúa 10 ngày trong nước mặn. “Đây là giống lúa được gọi là lúa sóng thần” - nhà nghiên cứu Philippines này hóm hỉnh. Ông cũng là cha đẻ khái niệm “lúa tạp chủng” có khả năng chống hạn và mặn. Các nhà nghiên cứu như ông đang mong muốn phát triển các giống lúa có khả năng chống lại cùng lúc nhiều điều kiện khắc nghiệt về thời tiết. “Ở Bangladesh chẳng hạn, nông dân có thể phải đối mặt với nạn hạn hán, ngập lụt và nhiễm mặn xảy ra trong cùng một vụ mùa - nhà nghiên cứu Glenn Gregorio nói - Họ đòi chúng tôi phải có câu trả lời thích hợp”.

Các giống lúa có khả năng kép - vừa chịu mặn vừa chịu ngập hoặc vừa chịu hạn vừa chịu ngập tốt - đã ra đời trong năm 2012 trong phòng thí nghiệm của IRRI. “Với những công cụ mà chúng tôi hiện có, chúng ta vẫn có thể mơ về một giống lúa “3 trong 1”, dù rằng một số người còn hoài nghi và nghĩ rằng giống lúa lý tưởng ấy không thể tồn tại” - ông Glenn Gregorio khẳng định.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Tình hình sản lượng lúa cả năm 2012

Sản lượng lúa cả năm 2012 ước đạt 43,7 triệu tấn
Thành Trung - TTXV

alt

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tổng diện tích lúa cả năm nay ước đạt khoảng 7,76 triệu ha, tăng 108.000ha so với năm 2011; năng suất bình quân ước đạt 56,5 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha; sản lượng ước đạt 43,7 triệu tấn thóc, tăng 1,45 triệu tấn so với năm 2011.

Trong đó, lúa đông xuân đạt 3.121ha (tăng 26.000ha); năng suất đạt 65 tạ/ha (tăng 1,1 tạ/ha); sản lượng đạt khoảng 20,276 triệu tấn (tăng 495000 tấn). Lúa hè thu đạt 2.174ha, năng suất đạt 54,2 tạ/ha, sản lượng 11.784 tấn. Diện tích lúa thu đông đạt 730.000ha, năng suất đạt 48 tạ/ha, sản lượng 3.504 tấn. Lúa mùa đạt 1.735ha, năng suất 47,3 tạ/ha, sản lượng ước đạt khoảng 8,2 triệu tấn.

Theo đánh giá của Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), nhiều tỉnh, thành phố cũng đã ban hành chính sách hỗ trợ, gắn xây dựng mô hình Cánh đồng mẫu lớn với dồn điền, đổi thửa, thiết kế lại đồng ruộng và xây dựng nông thôn mới thu được kết quả tốt, góp phần nâng cao sản lượng lương thực chung của cả nước.

Tính đến thời điểm này, các tỉnh miền Bắc đã cơ bản thu hoạch xong lúa mùa với tổng diện tích thu hoạch đạt 1,14 triệu ha, bằng 96,8% diện tích gieo cấy. Hiện chỉ còn một số diện tích lúa mùa muộn tập trung ở các tỉnh miền núi như Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Lai Châu.

Hiện các tỉnh miền Bắc đang đẩy nhanh tiến độ gieo trồng cây vụ đông dù trong điều kiện thời tiết không thuận. Vụ đông năm nay, nhiều địa phương đã ban hành các chính sách thích hợp hỗ trợ nông dân về giống, phân bón cũng như tiêu thụ sản phẩm, nhằm tăng đáng kể diện tích ngô, khoai tây, đậu tương, rau xanh chất lượng cao. Mặc dù gặp mưa bão vào giữa thời vụ gieo trồng nhưng diện tích một số loại cây vẫn tăng đáng kể so với cùng kỳ năm trước, nhất là rau, ngô và khoai lang.

 Theo báo cáo từ các địa phương, đến nay diện tích cây vụ đông đạt 357.000ha, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, một số cây chủ lực như ngô đạt 125.000ha; khoai lang đạt 43.500ha; rau, đậu các loại đạt 130.000ha. Chỉ có khoai tây mới đạt hơn 3.000ha, bằng 31,2% so với cùng kỳ năm trước, tuy nhiên do nguồn giống đã được chuẩn bị từ trước và lịch thời vụ vẫn còn nên diện tích sẽ tiếp tục tăng đáng kể trong thời gian tới.

Các tỉnh miền Nam hiện cũng đã thu hoạch được hơn 337.000ha lúa mùa, chiếm 43,5% diện tích xuống giống. Nhìn chung tốc độ thu hoạch của các vùng đều khá hơn so với cùng kỳ năm trước do thời tiết tương đối thuận lợi.

Các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long đã cơ bản kết thúc thu hoạch vụ lúa thu đông, với diện tích đạt gần 650.000ha, năng suất bình quân đạt khoảng 50 tạ/ha, giá lúa tiêu thụ trong những tháng cuối năm cũng tương đối thuận lợi cho nông dân.

Năm nay, nhiều địa phương tại vùng đồng bằng sông Cửu Long triển khai thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu, góp phần đẩy nhanh tiến độ triển khai xuống giống vụ lúa đông xuân 2012-2013. Đến nay, tổng diện tích xuống giống toàn vùng đã đạt hơn 408.000ha, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó điển hình là các tỉnh Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang./.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Giống lúa Việt được ưa chuộng ở ĐBSCL và đang triển vọng ở châu Phi

FOODCROPS. Nhìn lại chặng đường dài của cây lúa Việt Nam và những thành quả nghiên cứu miệt mài đang mang lại sự ấm no cho đất nước. Cây lúa Việt nam tự tin chung tay với quốc tế trong chương trình an ninh lương thực quốc gia của các nước bạn. 

alt

Giống lúa Việt ở châu Phi
PGS.TS Dương Văn Chín

Vào năm 1966 tại Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) ở Philippines, giống lúa cao sản ngắn ngày đầu tiên được phóng thích. Vào những thập niên 60 và 70 của thế kỷ trước, nước ta chủ yếu trồng các giống lúa mùa địa phương truyền thống và giống lúa cao sản nhập nội từ IRRI.

Tuy nhiên từ thập niên 80 trở về sau, các nhà khoa học VN đã lai tạo, chọn lọc, tạo ra những giống lúa cao sản phù hợp cho nhiều vùng sinh thái khác nhau ở trong nước. Những giống lúa này có mang gen di truyền từ nhiều vùng miền trên thế giới nên khả năng thích ứng rộng. Một số các giống lúa triển vọng này đang hiện diện tại châu Phi.

Liberia và Sierra Leone

Liberia và Sierra Leone là hai nước láng giềng ở vùng Tây Phi. Phía tây nam hai nước này giáp Đại Tây Dương. Những nước Tây Phi có thuận lợi là lượng mưa cao trong năm. Tại Liberia, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào khoảng tháng 10. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 4.320 mm. Đất ở đây tương tự như miền Đông Nam bộ của VN nhưng do lượng mưa nhiều nên đất xói mòn, tích tụ xuống vùng thấp hình thành những vùng đầm lầy bằng phẳng, có tiềm năng phát triển lúa nước.

Ở Liberia cũng có những vùng đồng cỏ savanna có thể giữ nước mùa mưa trong năm trồng một vụ lúa thâm canh. Trên vùng đất phù sa đầm lầy tại Madina thuộc bang Grand Cape Mounth cách thủ độ Monrovia 150 km về hướng Tây Bắc, pH chua, 13 giống lúa đưa từ VN sang đã được trồng nghiên cứu. Những giống triển vọng nhất là OM6976, OM3536, OM8923. Các giống lúa VN trồng tại Liberia kéo dài thời gian sinh trưởng khoảng nửa tháng so với trồng ở VN.

Giống N19 của Trung tâm Lúa gạo châu Phi (African Rice Center) cũng cho kết quả tốt, nhưng dài ngày hơn các giống của VN. Ở tại một điểm khác là trang trại Omega, cách trung tâm thủ đô Monrovia khoảng 30 km, những giống lúa cho kết quả triển vọng nhất là OM4900, OM3536 và OM5199.

Trong khi đó Sierra Leone có đất đai, khí hậu thời tiết tương tự như Liberia. 50 giống lúa VN đã mang sang thử nghiệm. Giống lúa cho kết quả tốt nhất là OM2514.

Rwanda

Nước Rwanda ở miền Trung châu Phi, nằm trong nội địa không tiếp giáp với biển và còn có tên gọi là đất nước ngàn đồi. Với độ cao trung bình 2.740 m so với mực nước biển. Khí hậu giống như Đà Lạt của VN với nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23 độ C. Lượng mưa trung bình khoảng 830 mm/năm. Đất dưới thung lũng có nhiều chất hữu cơ, pH thấp và được sử dụng trồng lúa. Trên 20 giống lúa từ VN được đưa sang, trồng so sánh với các giống châu Phi. Kết quả thí nghiệm trong năm 2003 - 2004 cho thấy giống OM 4498 cho kết quả nổi trội nhất, chống chịu lạnh rất tốt, năng suất cao nhất, không bị lép do lạnh như những giống khác.

Sudan

Sudan ở miền Đông Bắc châu Phi có phía đông giáp với biển Đỏ. Đất đai ở Sudan còn rất rộng lớn nhưng chưa được khai thác đúng mức. Lượng mưa trung bình hàng năm thấp chỉ khoảng 416 mm/năm, nhưng đất nước này có nguồn nước dồi dào từ sông Nile Xanh ở phía đông và sông Nile Trắng ở phía tây. Hợp lưu của hai sông tại thủ đô Khartoum và chảy qua Ai Cập, đổ về biển Địa Trung Hải. Về phía Bắc cách thủ đô Thủ đô Khartoum 300 km trên vùng sa mạc Sahara, lúa cũng được thử nghiệm trên đất phù sa kiềm (pH = 7,5 - 8) dọc sông Nile, xen kẽ với những vườn chà là chắn gió.

Tuy nhiên tiềm năng phát triển lúa gạo trên diện rộng ở vùng sa mạc này không cao. Tại đây vào cuối tháng 1/2011, 50 giống lúa từ VN được gieo trồng trong vụ xuân. Cây lúa thấp hơn ở VN khoảng 15 -20 cm nhưng thời gian sinh trưởng kéo dài thêm khoảng 30 - 60 ngày tùy từng giống.

Qua khảo sát, các giống có triển vọng là: OM8105, OM6706, OM6916, OM6698, OM10029, OM4900 và OM6014. Vùng có tiềm năng nhất là vùng đất phù sa có tưới thuộc bang sông Nile Trắng và bang Gezara nằm giữa sông Nile Trắng và sông Nile Xanh. Thời vụ tốt nhất để trồng lúa tại vùng này là gieo trong khoảng thời gian từ giữa tháng 6 đến giữa tháng 7 hàng năm. Lưu ý sử dụng hóa chất diệt cỏ. Khi lúa trổ trùng khớp với mùa thu hoạch cao lương vào tháng 11-12 thì ít bị chim phá hoại. 54 giống lúa cao sản VN được trồng trong mùa mưa vào tháng 7 năm 2010 trên vùng đất phù sa ven sông Nile trắng có pH là 8,3. Các giống triển vọng nhất kết luận được là OM2514, OM8923, MTL466, AS996 và OM4218.

Mozambic


Nước Mozambic nằm ở vùng duyên hải Ấn Độ Dương, Đông Nam châu Phi thuộc vùng khí hậu nhiệt đới với hai mùa mưa nắng. Mùa mưa trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 3 hằng năm, lượng mưa trung bình 590 mm/năm. Nhiệt độ 13-24 độ C trong tháng 7 và 22-31 độ C trong tháng 2. Có 13 giống lúa từ VN được mang sang thí nghiệm và nhân giống từ năm 2010 đến đầu năm 2012, trong đó 3 giống cho kết quả ưu việt nhất là OM2514, OM6979, OM6162 với năng suất biến thiên 7-8 tấn/ha.

Điểm đặc biệt nhất ở Mozambic là bên cạnh việc nghiên cứu kết luận các giống lúa VN phù hợp trong vùng, các chuyên gia nước ta còn tập huấn kỹ thuật canh tác lúa cho người dân địa phương và nhân được một số lượng lớn lúa giống phục vụ SX ra trên diện rộng. Tổng sản lượng hạt giống thu được 240 tấn vào đầu năm 2012.

Source: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/72/2/2/102182/giong-lua-viet-o-chau-phi.aspx

 

Đặc tính các giống lúa đang được ưa chuộng tại ĐBSCL
Nguồn:
 - Trang điện tử “Đi cùng nhà nông”.
 - Trang điện tử Sở NN&PTNT Vĩnh Long.
 - Trung tâm khuyến nông – khuyến ngư quốc gia.
 - Trung tâm khuyến nông – khuyến ngư HG.  

Vụ Đông xuân 2008 – 2009 Viện lúa ĐBSCL tiến hành trồng khảo nghiệm trình diện 150 giống lúa. Sau vụ sản xuất, hơn 500 nông dân và 50 cán bộ trung tâm giống nông nghiệp địa phương đã tiến hành bình chọn 09 giống lúa tiêu biểu nhất gồm: OM 6073 xếp hạng nhất (chiếm 49% số phiếu bầu). Tiếp theo là các giống: OM 5451 (43%), OM 6162 (42%), OM 4900 (36%), OM 4101 (33%), OM 5472 (26%), OM 6600 (20%) và HG2, OMCS2000 (cùng 15%). Sau đây là đặc tính các giống lúa đang khẳng định được vị thế của mình trên đồng lúa vùng ĐBSCL.

Đặc tính

1. GIỐNG LÚA OM 6073: Thời gian sinh trưởng 95-100 ngày, gạo dài, trong. Bông to, đùm, chịu phèn nhẹ. Chiều cao cây 100-105 cm. Năng suất đông xuân 6-8 t/ha, hè thu 4-5 t/ha. Hơi nhiểm đạo ôn, ít đỗ ngã.

2. Giống lúa OM 5451: Được chọn từ tổ hợp lai Jasmine 85/OM2490. Giống OM5451 có thời gian sinh trưởng khoảng 88 - 93 ngày (lúa sạ) trong vụ ĐX, 90 - 95 ngày trong vụ HT, trổ tập trung, chiều cao cây 95 - 100cm. OM 5451 có dạng hình đẹp, tương đối cứng cây, khả năng đẻ nhánh khá, bông đóng hạt dầy, tỉ lệ lép thấp, trọng lượng nghìn hạt trung bình 25 - 26g, hạt gạo dài, ít bạc bụng, cơm mềm. Giống OM 5451 chống chịu RN và bệnh đạo ôn khá, chống chịu bệnh VL - LXL khá. Tiềm năng năng suất của giống lúa này khá cao và ổn định trong cả 2 vụ ĐX và HT, đạt từ 5 đến 8 tấn/ha.

3. GIỐNG LÚA OM 6162: Thời giang sinh trưởng 95 ngày; thân rạ cứng; chiều cao cây 109 cm; năng suất 5 - 7 tấn/ha; khả năng kháng rầy nâu cấp 1 - 3, kháng đạo ôn cấp 1; tỉ lệ gạo nguyên 40 - 50%, bạc bụng (cấp 9) 2 - 5%; hạt dài 7,05 mm; hàm lượng amylose 19,5%. Đặc tính khác: Cứng cây, kháng vàng lùn, lùn xoắn lá, gạo đẹp, dẻo, thơm.

4. GIỐNG LÚA OM 4900: Thời gian sinh trưởng: 95 - 105 ngày, Chiều cao cây: 100 - 110cm.. Lá cờ đứng, cứng cây, bông to đùm, Hơi nhiễm rầy nâu, đạo ôn, cháy bìa lá, lúa von. Chịu phèn nhẹ.. Chất lượng: Cơm dẻo, thơm.. Hạt gạo dài, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Năng suất: 6 - 8 tấn / ha (Đông Xuân), 5 - 6 tấn / ha (Hè Thu).

5.- Giống OM 4101: Có thời gian sinh trưởng 85-90 ngày, chiều cao 98-103cm, thân rạ cứng. Năng suất đạt 5-7 tấn/ha. Dạng hình cây lúa thấp cây, chín sớm, gạo thơm nhẹ, ngon cơm.

6. Giống lúa OM 5472: Được chọn từ tổ hợp lai OM 2718/Jasmine85 và mới được được Bộ NN & PTNT công nhận là giống lúa sản xuất thử tại các tỉnh ĐBSCl và Trung bộ trong năm 2009. Giống OM 5472 thích nghi rộng và đã được canh tác nhiều tại các vùng trồng lúa ĐBSCL. Giống OM 5472 có thời gian sinh trưởng của lúa sạ khoảng 90 - 93 ngày trong vụ đông xuân (ĐX), 93-95 ngày trong vụ hè thu (HT), trổ tập trung, chiều cao cây 95 - 105cm. Đây là giống lúa có dạng hình đẹp, tương đối cứng cây, khả năng đẻ nhánh khá, bông đóng hạt dầy, tỉ lệ lép thấp, trọng lượng nghìn hạt từ 26 - 27g, gạo có mùi thơm nhẹ, hạt dài, trong, ít bạc bụng, cơm mềm. Giống OM 5472 chống chịu rầy nâu (RN) và bệnh đạo ôn trung bình. Trong vụ HT 2009 giống OM 5472 bị nhiễm nhẹ bệnh đạo ôn ở đầu vụ, chống chịu bệnh vàng lùn-lùn xoắn lá (VL - LXL) khá. Tiềm năng năng suất của lúa này khá cao và ổn định trong cả hai vụ ĐX và HT, đạt từ 5 đến 8 tấn/ha.

7. OM 6600: Thời gian sinh trưởng (TGST): 100 – 105 ngày; Chiều cao cây : 95 -100 cm; Trọng lượng 1000 hạt: 27,4 gam; Dạng hình đẹp, đẻ nhánh khá, lá cờ to, thẳng, bông dài, hạt đóng khít; Hạt gao dài, trong; Nhiễm đạo ôn (cấp 1- 6), rầy nâu (cấp 3 – 5); Năng suất bình quân 6 - 8 tấn/ha; Thích nghi cả 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu.

8. GIỐNG LÚA HG2: TGST 95 ngày; thân rạ cứng, chiều cao cây 105cm; năng suất 5 - 7 tấn/ha; khả năng kháng rầy nâu cấp 1 - 3, kháng đạo ôn cấp 1; tỉ lệ gạo nguyên 40 - 50%, bạc bụng (cấp 9) 2 - 5%; hạt dài 7,03 mm; hàm lượng amylose: 20%. Đặc tính khác: Cứng cây, kháng vàng lùn, lùn xoắn lá, gạo đẹp, dẻo, thơm.

9. GIỐNG LÚA OM 3995: TGST: 95 -100 ngày; Cao cây : 95 -100 cm; Trọng lượng 1000 hạt: 25,8 gam; Đẻ nhánh khá, lá cờ trung bình, bông dài, hạt đóng khít; Tỷ lệ hạt chắc cao: 83,4 %; Hạt gạo dài, trong; Nhiễm rầy nâu (cấp 5), nhiễm cháy lá (cấp 6); Năng suất bình quân 6-8 tấn/ha; Thích nghi cả 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu; Chú ý : Theo dõi phòng trừ rầy nâu, đạo ôn khi canh tác.

10. GIỐNG LÚA OM 6377: TGST: 95 -100 ngày; Chiều cao cây : 85 - 90 cm; Trọng lượng 1000 hạt: 32,7 g; Đẻ nhánh khá; lá cờ trung bình, thẳng; bông dài, hơi khoe bông; Hạt gạo dài, trong ; tỷ lệ hạt chắc cao; Nhiễm Rầy nâu (cấp 4 - 3), hơi kháng cháy Lá; Năng suất bình quân 6-8 tấn/ha; Thích nghi cả 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu; Chú ý : Theo dõi phòng trừ rầy nâu khi canh tác.

11. GIỐNG LÚA OM 4498: Thời gian sinh trưởng 90 – 95 ngày. Chiều cao cây đạt 95 – 100 cm. Chống chịu sâu bệnh: Hơi nhiễm rầy nâu (cấp 5), hơi kháng bệnh đạo ôn (cấp 3); chịu phèn khá. Năng suất: 6 – 8 tấn/ha. Chất lượng gạo: Tỉ lệ xay sát cao (gạo lức: 79 -80 %; gạo tổng số 68 – 69 %; gạo nguyên: 50 – 55 %). Hạt gạo thon dài (7,0 – 7,1 mm), tỉ lệ dài/rộng (D/R: 3,3), bạc bụng thấp; hàm lượng amyloza trung bình khoảng 24,5%.

12. GIỐNG LÚA OM 2718: Thời gian sinh trưởng 100 ngày trong điều kiện gieo mạ cấy và 90 - 95 trong điều kiện gieo thẳng. Chiều cao cây 100 – 105 cm. Năng suất trung bình ở vụ Đông Xuân 5 - 6 tấn/ha, vụ Hè Thu 4 tấn/ha. OM 2718 có gạo hạt dài 7mm, gạo trong k hông bạc bụng, cơm mềm đạt tiêu chuẩn gạo xuất khẩu. kháng trung bình với rầy nâu và nhiễm bệnh đạo ôn (cấp 7), hơi nhiễm rầy nâu (cấp 5).

13. GIỐNG LÚA OM 4218: Thời gian sinh trưởng 90-95 ngày, gạo dài, trong, mềm cơm, chịu phèn nhẹ. Chiều cao cây 90-95 cm. Năng suất đông xuân 6-8 t/ha, hè thu 5-6 t/ha. It đỗ ngã, chống chịu vàng lùn-lùn xoắn lá tốt.

14. GIỐNG LÚA OM 6561: Thời gian sinh trưởng 90-95 ngày, gạo dài, trong, bông to. Chiều cao cây 95-100 cm. Năng suất đông xuân 6-8 t/ha, hè thu 4-6 t/ha. It đỗ ngã, chống chịu vàng lùn-lùn xoắn lá tốt.

15. GIỐNG LÚA OM 5930:
TGST 95 - 100 ngày; thân rạ cứng; chiều cao cây 103 cm; năng suất: 5 - 7 tấn/ha; khả năng kháng rầy nâu cấp 1 - 3; khả năng kháng đạo ôn cấp 1; tỉ lệ gạo nguyên 40 - 50%, tỷ lệ bạc bụng (cấp 9): 5 - 7%; hạt dài 7,2 mm; hàm lượng amylose: 24,05%. Đặc tính khác: Cứng cây, kháng vàng lùn, lùn xoắn lá, gạo đẹp, thơm nhẹ, công nhận quốc gia 2008.

16. GIỐNG LÚA OM 5636: TGST 93 - 37 ngày; thân rạ cứng, chiều cao cây 110 cm; năng suất: 5 - 7 tấn/ha; khả năng kháng rầy nâu cấp 3, kháng đạo ôn cấp 3; tỉ lệ gạo nguyên 35 - 50%, bạc bụng (cấp 9) 10%; hạt dài 7,02 mm; hàm lượng amylose: 24,52%. Đặc tính khác: Cứng cây, kháng vàng lùn, lùn xoắn lá, chịu phèn, gạo đẹp, công nhận sản xuất thử 2008.

17. GIỐNG LÚA OM 6377(AG1): TGST 90 - 95 ngày; thân rạ cứng, chiều cao cây 111 cm; năng suất: 5 - 7 tấn/ha; khả năng kháng rầy nâu cấp 1 - 3, kháng đạo ôn cấp 1 - 3; tỉ lệ gạo nguyên 45%, bạc bụng (cấp 9) 8%; hạt dài 7,05 mm; hàm lượng amylose 24,3%. Đặc tính khác: Cứng cây, kháng vàng lùn, gạo đẹp, thơm nhẹ.

18. OM GIỐNG LÚA CS2009: TGST 85 ngày; thân rạ cứng, chiều cao cây 101 cm; năng suất 5 - 7 tấn/ha; khả năng kháng rầy nâu cấp 1 - 3, kháng đạo ôn cấp 1 - 3; tỉ lệ gạo nguyên 45%, bạc bụng (cấp 9) 5 - 10%; hạt dài 7,08 mm; hàm lượng amylose 24,3%. Đặc tính khác: Cứng cây, kháng vàng lùn, lùn xoắn lá, ngắn ngày, gạo đẹp, mềm cơm.

19. Giống lúa OMCS2000: Đặc tính chủ yếu của giống lúa OMCS2000 là có chiều cao cây: 108cm. Thời gian sinh trưởng: 93 ngày (vụ Đông-Xuân: 93 ngày, Hè-Thu: 99 ngày). Thuộc dạng hình thâm canh trung bình. Có khả năng chống chịu rầy nâu cấp 5, đạo ôn cấp 7. Cây có dạng trung bình, chịu phèn khá. Năng suất cao nhất: 8 tấn/ha, trung bình: 5.4 tấn/ha, thấp nhất: 3,6 tấn/ha. Chiều dài bông: 24cm, số hạt chắc/bông: 70-90, tỷ lệ lép: 15-19%. Trọng lượng 1000 hạt: 25-26g, dạng hạt thon, dài: 7,3mm. Tỷ lệ gạo nguyên: 52,4%. Chất lượng gạo tốt, rất được người tiêu dùng ưa chuộng. Riêng về hướng sử dụng, yêu cầu kỹ thuật thì giống lúa OMCS2000 có vùng thích nghi rộng ở mọi chân đất. Thích nghi cả hai vụ Đông-Xuân và Hè-Thu.

Source: http://www.festivalluagao.vn/doc_gallery_detail-4-Dac-tinh-cac-giong-lua-dang-duoc-ua-chuong-tai-DBSCL.html

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Bông lúa vàng Việt Nam năm 2012

FOODCROPS. Bộ Nông nghiệp và PTNTvừa tổ chức lễ trao Giải thưởng Bông lúa Vàng Việt Nam. Với 4 nhóm tác giả với những thành quả thiết thực trong nghiên cứu đóng góp cho sự nghiệp phát triển nông thôn của đất nước gồm có. TS Mai Xuân Triệu và giống Ngô VN61;  GS.TS Nguyễn Thị Lang với giống lúa OM4900; PGS.TS Trần Thị Cúc Hòa với giống lúa OM6979; ThS Trần Thị Oanh Yến với giống thanh long Long Định 1. 

Bông lúa vàng Việt Nam năm 2012
Tran Anh Nhu

alt

Vừa qua, Bộ Nông nghiệp và PTNT tổ chức Lễ trao Giải thưởng Bông lúa Vàng Việt Nam tại Nhà hát lớn Hà Nội.
Tham dự lễ trao giải có Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh cùng đại diện các bộ, ban, ngành, đoàn thể ở trung ương và địa phương.

Giải thưởng Bông lúa Vàng 2012 được tổ chức đúng vào dịp kỷ niệm 67 năm ngày thành lập Bộ Canh nông (14/11/1945 – 14/11/2012) - tiền thân của Bộ Nông nghiệp và PTNT ngày nay. Giải thưởng được tổ chức 2 năm/lần và cũng là giải thưởng duy nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ghi nhận, biểu dương và tôn vinh các tập thể, cá nhân có sản phẩm chất lượng cao, các mô hình phát triển nông nghiệp và nông thôn mới, các công trình nghiên cứu khoa học và công nghệ được áp dụng trong sản xuất và đời sống nhằm góp phần thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và hội nhập kinh tế quốc tế.

Được vinh danh và trao giải Bông lúa vàng đợt này, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam có 04 nhóm tác giả với những sản phẩm là thành quả nghiên cứu đã có những đóng góp thiết thực hiệu quả cho sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn của đất nước.

1. TS. Mai Xuân Triệu- Viện trưởng Viện Nghiên cứu Ngô - tác giả chính giống Ngô VN61

2. GS.TS.Nguyễn Thị Lang - Viện Lúa Đồng Bằng Sông cửu Long - tác giả chính giống lúa OM4900

3. PGS.TS.Trần Thị Cúc Hoà - Viện Lúa Đồng Bằng Sông cửu Long - tác giả chính giống lúa OM6979

4.ThS. Trần Thị Oanh Yến – Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam – tác giả chính giống Thanh long ruột đỏ Long Định 1

Giống lúa OM4900

1. Nguồn gốc: Phát triển từ tổ hợp lai C53/Jasmine 85 ( marker RG28). Được công nhận giống chính thức năm 2009 theo Quyết định số 198 QĐ/BNN-KHCN ngày 18/06/2009 của Bộ Nông Nghiệp & PTNT.

2. Đặc tính:

- Thời gian sinh trưởng 100-105 ngày.
- Chiều cao cây: 105-110cm. Cứng cây, đẻ nhánh khỏe
- Phản ứng với rầy nâu cấp 3, đạo ôn cấp 3.
- Năng suất trung bình: Vụ Đông xuân: 6-8 tấn/ha, vụ Hè Thu : 5-6 tấn/ha.
- Khối lượng 1.000 hạt 28,3g.
- Chiều dài hạt 7,8 mm, tỷ lệ amylose 16,2%.
- Cứng cây, kháng vàng lùn, lùn xoắn lá, gạo đẹp, cơm dẻo, thơm...,
- Giống OM4900 gieo trồng thích hợp cho cả vụ Đông Xuân và Hè Thu. Giống được chấp nhận cao ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, và nhiều địa phương khác ở ĐBSCL. Giống phát huy tốt ở các vùng đất phù sa ngọt sản xuất giống lúa chất lượng cao cho xuất khẩu.

Giống lúa OM6979

- Thời gian sinh trưởng : 95-100 ngày
- Chiều cao cây : 95-100 cm
- Năng suất trung bình : vụ Đông Xuân 7-9 tấn/ha; vụ Hè Thu: 6-8 tấn/ha.
- Bông to, đùm
- Chống chịu rầy nâu, đạo ôn khá.
- Cứng cây, chịu phèn mặn khá.
- Hạt gạo dài trung bình, trong, mềm cơm, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu

Source: http://vaas.vn/

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC  

Chọn tạo giống lúa hướng đến thích ứng với biến đổi khí hậu

Báo Điện tử Cần Thơ 16.9. Trong điều kiện khí hậu, môi trường ngày càng khắc nghiệt, công tác nghiên cứu, chọn tạo giống lúa nhằm nâng cao giá trị hạt gạo, phục vụ sản xuất được đặt ra hàng đầu. Xoay quanh vấn đề này, Tiến sĩ Phạm Trung Nghĩa, Phó Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL, cho biết:

alt 

Chọn tạo giống lúa hướng đến thích ứng với biến đổi khí hậu
Tiến sĩ Phạm Trung Nghĩa
Phó Viện Trưởng Viện Lúa ĐBSCL

- Sản xuất lúa ở vùng ĐBSCL đang phải đối diện với những khó khăn ban đầu do biến đổi khí hậu gây ra như: hiện tượng nhiễm mặn lan rộng, kéo dài và khô hạn cục bộ. Mặc dù tình hình trên chưa ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lúa vùng ĐBSCL nhưng mức độ thiệt hại đang có chiều hướng tăng lên. Do đó, công tác nghiên cứu, chọn tạo giống lúa đang tập trung nhiều vào đặc tính chống chịu mặn, hạn cho giống lúa cao sản. Bên cạnh đó, Viện Lúa ĐBSCL hiện đang tập trung vào 2 mục tiêu nghiên cứu chọn tạo chính cho vùng phù sa nước ngọt, thâm canh là: (1) Chọn tạo giống lúa ngắn ngày (80-90 ngày), kháng sâu bệnh, phẩm chất gạo tốt, thích nghi cho canh tác các vùng trồng 3 vụ lúa/năm. Một vài giống lúa triển vọng ngắn ngày mới (OM11211, OM10424, OM10434, OM6904,...) đang được khảo nghiệm tại các tỉnh ĐBSCL. (2) Chọn tạo các giống lúa theo hướng tăng trần năng suất (đạt 10-12 tấn/ha), thời gian sinh trưởng từ 95-105 ngày, kháng sâu bệnh, phẩm chất gạo tốt, thích nghi cho vùng 2 vụ lúa/ năm. Với xu hướng tăng trần năng suất, công tác nghiên cứu, chọn tạo giống lúa mới từ các tổ hợp lai giống lúa dạng hình indica với giống lúa japonica đang được tập trung thực hiện. Nhiều dòng lúa triển vọng từ các tổ hợp lai indica x japonica với thân rạ to, cứng cây, đẻ nhánh khá, bông to chùm, tiềm năng năng suất cao đang được quan sát tại Viện Lúa ĐBSCL.

* Xu hướng nghiên cứu, chọn tạo và khuyến cáo các giống lúa phù hợp trong tình hình hiện nay được Viện tiến hành ra sao, thưa Tiến sĩ?
- Mục tiêu chọn tạo ra được các giống lúa chống chịu mặn ở mức độ từ 4-6‰ muối là rất cần thiết nhằm bảo đảm sản lượng lúa vùng ĐBSCL. Các nghiên cứu của Viện Lúa cho thấy, các giống lúa cao sản bị chết trên 80% số cây khi bị nhiễm mặn ở mức 4-6‰ trong vòng 1 tháng ở giai đoạn mạ, và giảm trên 60% năng suất khi bị mặn liên tục từ ngày thứ 55 sau khi gieo đến trổ. Thực tế, trong sản xuất lúa ở các vùng nhiễm mặn ĐBSCL, người dân vẫn còn đang canh tác diện rộng một số giống lúa cao sản chịu mặn cũ, phẩm chất gạo xấu (OM576, OM1490, AS996,...). Một số giống lúa mới phóng thích gần đây như: OM6976, OM8923, OM4900, OM5451, OM5464, OM5629 có tính chịu mặn từ 3-4‰ muối, phẩm chất gạo khá tốt và có tiềm năng năng suất cao. Một số dòng lúa chịu mặn mới như: OM7347, OM9915, OM9921 và OM9916 có tính chịu mặn khá tốt, gạo có mùi thơm đậm, cơm ngon, đang được khảo nghiệm và nhân rộng tại một số trung tâm giống các tỉnh như: Cà Mau, Sóc Trăng, Kiên Giang, Bến Tre và Trà Vinh. Về giống lúa chịu hạn, hiện có 2 giống lúa mới có tính chịu hạn khá, thích hợp cho vùng ĐBSCL đã được phóng thích vào sản xuất là OM5464 và OM6162. Do tính chất hạn ở ĐBSCL chỉ là những đợt hạn ngắn khoảng 5-14 ngày nên việc chọn tạo giống theo hướng chọn giống lúa thích nghi với điều kiện đất khô ráo, tưới nước tiết kiệm nhưng vẫn cho năng suất cao. Riêng xu thế chọn giống lúa có phẩm chất gạo cao, Viện cũng đã tạo ra được một số giống lúa thơm, gạo thon dài trên 7mm như: OM4900, OM6162, OM7347, OM9915, OM9921,...

* Thực tế, có một số giống lúa chất lượng cao nhưng vẫn chưa được người tiêu dùng biết đến, chấp nhận. Theo Tiến sĩ nguyên nhân do đâu? Viện có chiến lược gì để phát triển giống lúa chất lượng cao?
- Có vài lý do chính sau: Thứ nhất, giống lúa chất lượng cao thường hay bị nhiễm một hoặc vài loại sâu bệnh, thuộc nhóm giống có thời gian sinh trưởng từ 95-105 ngày. Đây là khuyết điểm cho nhóm lúa chất lượng cao khi so sánh với các giống lúa cao sản, ngắn ngày, chất lượng gạo thấp như IR50404, OM4218,... nên nông dân còn e dè trong sử dụng giống lúa này. Thứ hai, chúng ta vẫn chưa có nhiều vùng sản xuất lúa cho một giống lúa chất lượng cao nào đủ lớn để các doanh nghiệp thu mua, chế biến và hình thành thương hiệu. Một vùng sản xuất lúa canh tác hàng chục giống lúa khác nhau thường dẫn đến tình trạng bị trộn lẫn nhiều loại giống lúa khác nhau, làm giảm giá trị hạt gạo. Thứ ba, hạt gạo chất lượng thấp như: IR50404, OM576... hiện nay có thị trường thu mua nhiều hơn so với hạt gạo của giống lúa chất lượng cao, đôi khi giá mua giữa 2 loại gạo này không khác biệt. Do đó, ngoài biện pháp chọn tạo ra các giống lúa chất lượng cao, kháng sâu bệnh tốt hơn, thì việc quy hoạch sản xuất và tìm thị trường tiêu thụ nhằm đảm bảo giá trị kinh tế của hạt gạo chất lượng cao là cần thiết.

Để các chương trình phát triển giống lúa chất lượng cao có thể đưa vào sản xuất lúa trong điều kiện môi trường, khí hậu ngày càng khốc liệt, thì mục tiêu chọn tạo giống lúa chất lượng cao phải được kết hợp với mục tiêu chọn tạo giống lúa cho điều kiện canh tác bất lợi như: chống chịu mặn, hạn, ngập tạm thời... Viện Lúa ĐBSCL cũng đang tiếp tục thực hiện các đề tài nghiên cứu chọn tạo giống lúa chất lượng cao. Mục tiêu chất lượng gạo của các đề tài chọn giống lúa chất lượng hiện nay là phải đạt tiêu chuẩn hạt gạo của giống Jasmine85 (thơm, hạt gạo thon dài, trong, ít bạc bụng, cơm dẽo mềm). Hướng phấn đấu trong tương lai là chất lượng hạt gạo phải đạt tiêu chuẩn chất lượng của giống lúa Basmati- một giống lúa nổi tiếng ở các vùng sản xuất lúa của Pakistan và Ấn Độ có mùi thơm đậm, gạo thon dài, mềm dẻo và ngon.

* Theo Tiến sĩ, để nâng cao hơn nữa giá trị kinh tế của hạt gạo thì cần phải quan tâm đến vấn đề gì trong sản xuất?
- Theo tôi, vấn đề cần quan tâm trước hết là việc sử dụng giống lúa xác nhận trong nông dân hiện nay chỉ khoảng 20-40%, còn lại là hạt lúa tự để lại từ ruộng sản xuất để làm giống cho vụ sau, nên cần nâng cao hơn nữa số lượng hạt giống xác nhận được sử dụng trong nông dân. Để làm tốt khâu này, mạng lưới đánh giá và nhân giống lúa các cấp giữa cơ quan tạo giống (viện/ trường đại học) với các trung tâm giống các tỉnh, công ty giống cần phải được liên kết, tổ chức lại chặt chẽ hơn. Cơ quan tạo giống cần nắm bắt được nhu cầu giống lúa, số lượng cần cho từng năm, để có kế hoạch nhân giống lúa siêu nguyên chủng, nguyên chủng cung cấp đủ cho các tỉnh. Trung tâm giống, trung tâm khuyến nông các tỉnh cần tăng cường công tác nhân giống lúa cấp nguyên chủng, xác nhận và đẩy mạnh xã hội hóa công tác giống. Đồng thời thực hiện tốt mạng lưới nhân giống lúa các cấp, để cung cấp đủ số lượng giống xác nhận cho nông dân sử dụng lên trên 80% diện tích canh tác lúa. Cần đẩy mạnh hơn nữa việc quy hoạch và thực hiện các vùng sản xuất lúa cho từng giống lúa chất lượng cao. Gần đây, một số tỉnh thực hiện rất tốt mô hình “Nông hộ nhỏ, cánh đồng lớn” giúp quy hoạch lại ruộng đất, cơ giới hóa trồng lúa và hình thành cơ cấu một vài giống lúa chủ lực/cánh đồng. Một vấn đề quan trọng cần quan tâm là khâu tổ chức sấy lúa và bảo quản trong vụ hè thu. Do biện pháp sấy lúa hiện nay vẫn chưa thuận tiện, tốn kém nhiều chi phí vận chuyển, nên nhiều nông hộ tự phơi lúa, điều đó thường không đảm bảo cho phẩm chất hạt gạo khi bảo quản và chế biến, làm giảm giá trị kinh tế. Nếu chúng ta tổ chức được các lò sấy lúa di động, nhất là ở những cánh đồng lớn, giúp các nông hộ sấy lúa kịp thời sau khi thu hoạch, thì việc sản xuất lúa vụ hè thu sẽ thuận lợi hơn.

* Xin cảm ơn Tiến sĩ!
N.NGÂN  Thực hiện

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Không chủ quan với an ninh lương thực dù có giống lúa mới ưu việt

Không chủ quan với an ninh lương thực dù có giống lúa mới ưu việt
TS.Trần Duy Quý

alt

Việt Nam đã đầu tư nhiều cho công nghệ di truyền, đặc biệt là trong việc chọn tạo giống lúa. Vì vậy trong 5 năm qua các nhà khoa học nông nghiệp nước ta đã tạo ra được nhiều giống lúa mang bản quyền Việt Nam có những đặc tính rất ưu việt, đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước và xuất khẩu. Phải chăng vì thế mà chúng ta có thể “nới tay” trong việc kiểm soát diện tích lúa và không phải lo lắng về vấn đề an ninh lương thực?

Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Trần Duy Quý, nguyên Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, sẽ đưa ra câu trả lời cho bạn đọc Tầm Nhìn.


Xin Giáo sư cho biết những thành tựu nổi bật của Việt Nam trong việc chọn tạo và lai tạo các giống lúa có năng suất cao và chất lượng tốt trong thời gian qua.


Khoảng 5 năm trở lại đây các nghiên cứu về chọn tạo các giống lúa ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Có hai nhóm, hai mảng - nghiên cứu về lúa lai và lúa thuần bằng phương pháp truyền thống kết hợp với phương pháp công nghệ sinh học. Nói đến lúa lai thì phải nói đến các nhà khoa học nổi tiếng, đầu đàn, đó là Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Trâm, Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, nguyên Phó Viện trưởng Viện Sinh học Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Cùng với các cộng sự của mình bà đã cho ra một loạt giống lúa lai hai dòng mang bản quyền Việt Nam, như là TH3-3, TH3-4, TH3-5. Đấy là sự đột phát trong 5 năm trở lại đây. Các giống lúa lai này có năng suất cao, tính thích ứng rộng, chất lượng gạo khá, đáp ứng được một phần nhu cầu hạt giống lúa lai ở trong nước.


Tiếp theo là các giống lai “siêu lúa” của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Hoan, cũng ở Viện Sinh học Nông nghiệp, và của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Duy Hoàng ở Trung tâm Lúa lai, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. Riêng Viện Di truyền Nông nghiệp lại tập trung vào mảng lúa thuần do Bộ môn Di truyền đột biến và Công nghệ lúa lai tiến hành. Trong nhiều năm cơ quan này đã tạo ra được nhiều giống lúa năng suất cao, khả năng kháng bệnh tốt, có sự thích ứng mạnh với sự biến đổi thời tiết như QR1, QR2, I01, J02, PC68, DT 68.


Giáo sư có thể cho biết, Việt Nam sẽ đi theo hướng nào trong việc chọn giống lúa – giống lúa lai hay lúa thuần chủng?


Lúa thuần và lúa lai khác nhau ở chỗ: lúa thuần mình gieo cấy rồi để giống được từ vụ này sang vụ khác mà không phải mua giống, ít nhất trong 3 vụ, nếu biết chọn lọc và bảo quản. Còn lúa lai, sau khi thu hoạch lấy thóc thương phẩm thì phải mua hạt giống khác để gieo vụ sau. Nếu dùng lúa lai của vụ trước làm giống thì nó sẽ tự thụ và phân ra cây cao, cây thấp, không đồng đều, năng suất giảm đi về mặt lý thuyết là 25%. Vì thế lúa lai không để giống được. Đó là khác biệt căn bản giữa lúa lai và lúa thuần.


Lúa lai thì phải có dòng bố và dòng mẹ, khi cho thụ phấn với nhau thì tạo ra con lai F1. Lúa thuần là giống lúa cũng do lai tạo ra giữa bố và mẹ nhưng cho chọn lọc tự thụ trong nhiều đời, ít nhất thừ 8 đến 12 đời, từ đó chọn được một dòng thuần hoàn toàn để tự thụ và làm giống. Lúa lai thì chỉ qua một đời thôi. Lúa lai có nhiều ưu thế, cho năng suất cao hơn lúa thuần ít nhất 15 – 20%, thích ứng rộng.


Nếu chọn vài giống lúa có thể sánh được với các giống lúa tốt nhất của thế giới, của Thái Lan, của Mỹ thì chúng ta có giống lúa Sóc Trăng (ST 20), hiện tại giá lúa ST 20 còn đắt hơn gạo Thái. Tại Việt Nam gạo Thái bán với giá 22.000 đồng/kg ở siêu thị thì gạo ST 20 được bán với giá 26.000 - 29.000 đồng/kg. Gạo Tám Thơm vẫn có chỗ đứng tại thị trường Việt Nam vì nó có ưu thế đặc trưng như hạt gạo sau khi nấu chín có độ dẻo và bóng, tuy nhiên việc xay xát phải rất thận trọng vì hạt gạo dài nên dễ gãy.


Tùy từng vùng khí hậu mà lúa lai hay lúa thuần được ưa dùng. Ở miền núi phía Bắc nông dân dùng lúa lai nhiều vì đặc tính dễ thích ứng với thời tiết lạnh và năng suất cao. Với đồng bằng hay ngập úng thì lúa thuần ưu thế hơn.


Bây giờ khoa học công nghệ cho phép tạo ra những giống lúa lai cho hạt gạo thơm, dẻo còn hơn các giống lúa thuần. Nhưng nhìn chung, chất lượng, mùi thơm của các giống lúa lai vẫn còn thua các giống lúa thuần đặc sản, chẳng hạn giống HIT 100, HIT 108, HIT 122 của Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm.


Thưa Giáo sư, như vậy là các nhà khoa học nông nghiệp Việt Nam đã có bước tiến lớn trong việc chọn tạo và lai tạo các giống lúa. Vậy nhưng tại sao chúng ta vẫn phải nhập các giống lúa của Trung Quốc?


Hiện nay một số giống lúa lai của Trung Quốc vẫn được nhập về nhưng với tỷ lệ rất thấp. Lúa lai ở Việt Nam mỗi năm chỉ có 500.000 ha, trong số này ta nhập của Trung Quốc 70%, khoảng 350.000 ha. Còn 150.000 ha do ta tự túc giống. Tuyệt đại đa số diện tích trồng lúa của Việt Nam, hơn 6 triệu ha lúa thuần (2 vụ), là do ta tự túc giống cả. Không nhất thiết chúng ta phải tự lo toàn bộ các giống lúa lai vì các giống tốt của Trung Quốc cũng là thành tựu của trí tuệ loài người. Nếu giá rẻ và phù hợp với thổ nhưỡng, thời tiết của ta thì chúng ta nhập.


Hơn nữa, một trong những lý do các giống lúa lai của Trung Quốc có chỗ đứng ở Việt Nam là vì các tỉnh của ta vẫn áp dụng chính sách trợ giá (cho lúa lai). Nếu Chính phủ mình quyết định bỏ hoàn toàn việc trợ giá thì các giống lúa lai Trung Quốc khó vào được Việt Nam vì giống lúa thuần của chúng ta cũng đạt năng suất 7 – 8 tấn/ha, không kém gì lúa lai, chất lượng gạo tốt mà để giống cho mùa sau cũng được.


Các doanh nghiệp của Việt Nam đi mua giống lúa lai của Trung Quốc hay bị lừa ở chỗ: có giống lúa lai cùng một mẹ nhưng khác bố với giống lúa được quảng cáo, nhìn bằng mắt thường không phân biệt được vì hình dáng, màu sắc đều mang đặc điểm của mẹ. Nếu doanh nghiệp Việt Nam thích giống Nhị Ưu 838 thì một số doanh nghiệp Trung Quốc thiếu nghiêm túc sẽ cho ra một loại giống tương tự Nhị Ưu 838, có cùng mẹ nhưng khác bố, để giảm giá thành và rút ngắn quy trình lai tạo. Bố khác thì sẽ cho đặc tính của con khác. Đến khi lúa đã gieo và phát triển thì mới phát hiện ra, năng suất không cao như nông dân mong muốn, ví dụ chỉ đạt 6 tấn thay cho 8 tấn/ha.


Thưa Giáo sư, vì chúng ta có thể chọn tạo, lai tạo những giống lúa năng suất rất cao nên việc kiểm soát diện tích lúa cũng như vấn đề an ninh lương thực không cần đặt ra một cách gắt gao chăng?


Quan điểm chung của các nhà khoa học, không chỉ của riêng tôi, là như thế này: Về mặt lý thuyết năng suất lúa có thể còn lên nữa, tới 10 tấn/ha/vụ, sản lượng lương thực có thể đạt 55 – 60 triệu tấn trong vài chục năm nữa. Tuy nhiên, để đảm bảo an ninh lương thực chắc chắn trong thời kỳ biến đổi khí hậu thì Việt Nam dứt khoát phải giữ được 3,8 triệu ha lúa. Nếu diện tích lúa giảm thì sẽ xuất hiện nguy cơ thiếu lương thực vì có những năm xảy ra lạnh kéo dài, lụt, nước biển dâng… Những giống lúa hiện có không thể thích ứng ngay được.


Chẳng hạn, mưa liên tục thì các giống lúa của chúng ta bị ngập, không chịu được úng và chết hết, mất mùa và ảnh hưởng đến an ninh lương thực ngay. Muốn tạo giống mới phải có ít nhất 5 – 7 năm. Chưa kể thóc gạo còn được chế biến làm bún, bánh, để chăn nuôi… Rồi số dân tăng. Mỗi một năm dân số Việt Nam tăng xấp xỉ 1 triệu người, bằng một tỉnh. Nuôi được số người sinh thêm này không phải dễ. Chủ trương của Nhà nước từ nay đến năm 2050 giữ 3,8 triệu ha trồng lúa là rất đúng đắn. Có thực mới vực được đạo. Không đảm bảo an ninh lương thực thì sẽ dẫn đến bất ổn chính trị. Vì vậy an ninh lương thực là vấn đề mấu chốt của bất cứ quốc gia nào.

Source: http://vaas.vn/tieudiem_print.asp?newsID=NEW_122504113404

Lúa gạo Việt Nam trong chuỗi cung ứng gạo châu Á

CÂY LƯƠNG THỰC.  Lúa Việt Nam trong chuỗi cung ứng gạo châu Á chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn khi hiện nay các doanh nghiệp lúa gạo của ba nước Thái Lan, Myanmar, Philippines đã thành lập hiệp hội lúa gạo để phát triển chuỗi cung ứng gạo trong khu vực Đông Nam Á, hướng đến các thị trường lớn như Indonesia, Trung Quốc với những lợi thế so sánh trong đầu tư: Thái Lan cung cấp dịch vụ tiếp thị toàn cầu, Philippines cung cấp công nghệ và giống lúa, Myanmar có vai trò cung cấp đất và tài nguyên. Điều này sẽ tạo nên một OPEC lúa gạo thực sự, có khả năng chi phối giá gạo và ảnh hưởng an ninh lương thực trong khu vực và cả thế giới. Xét về kinh nghiệm quảng bà tiếp thị, lợi thế so sánh về đất đai và nguồn tài nguyên, giống lúa và quy trình kỹ thuật thâm canh lúa... Việt Nam sẽ còn nhiều rủi ro và khó khăn trong xuất khảu gạo không chỉ ở vấn đề phân khúc thị trường kém hơn, sản lượng gạo thấp hơn, thị trường truyền thống đang bị cạnh tranh và thu hẹp. Bài của Đỗ Thiện "Hiệp hội lúa gạo Asian: Vì đâu Việt Nam ra rìa?" đã đề cập điều đó. Giải pháp chính sách và quản lý là một trong những nổ lực để nâng cao giá trị của cây lúa và hạt gạo Việt Nam .  Diễn đàn Nông nghiệp quản lý rủi ro trong phát triển (FARMD), hội nghị thường niên năm 2012: Rủi ro và Lúa Gạo châu Á, được tổ chức tại TP Hồ Chí Minh, ngày 17-18/10/ 2012 Hội nghị quy tụ các cá nhân và các tổ chức từ khắp châu Á và phần còn lại của thế giới, những người đang hoạt động trong lĩnh vực lúa gạo. Hội nghị tập trung vào phạm vi rủi ro mà ngành công nghiệp gạo của châu Á đang phải đối mặt và thảo luận về những cơ hội và thách thức đối với việc thực hiện các chiến lược để cải thiện quản lý rủi ro trên toàn ngành gạo châu Á.

alt 

HIỆP HỘI LÚA GẠO ASEAN: VÌ ĐÂU VIỆT NAM RA RÌA?
Đỗ Thiện (Báo pháp luật)

Xét về góc độ kỹ thuật, tài nguyên, quảng bá tiếp thị và cả giống lúa thì trong cuộc chơi với “hội đồng bộ ba” này, tương lai hạt gạo Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Ngày 1-10 vừa qua, Thông tấn xã Việt Nam đưa tin các doanh nghiệp ba nước Philippines, Myanmar, Thái Lan vừa thành lập hiệp hội lúa gạo để phát triển chuỗi cung ứng gạo trong khu vực Đông Nam Á, hướng đến các thị trường lớn như Indonesia, Trung Quốc… Tại sao Việt Nam “vắng mặt” trong hiệp hội này dù Việt Nam đã vươn lên giành vị trí dẫn đầu thế giới về xuất khẩu lúa gạo với sản lượng đạt 4,6 triệu tấn tính đến thời điểm nửa cuối tháng 8-2012.

Dù cách đây hơn một tháng, tờ báo Bangkok Post (Thái Lan) đưa tin bộ trưởng thương mại của năm nước Việt Nam, Campuchia, Lào, Myanmar và Thái Lan sẽ ký thỏa thuận thành lập Hiệp hội Gạo ASEAN trong sáu tháng cuối năm 2012 nhưng dường như hiện nay Việt Nam đang “ra rìa” trong cuộc chơi OPEC lúa gạo ASEAN - cuộc chơi mà theo Giám đốc điều hành Công ty Agrow Enterprise ở Bangkok Chiaki Furi nhận định rằng cần phải có sự góp mặt của Việt Nam.

Thái Lan lơ Việt Nam để trở thành “đầu tàu”

Có ít nhất ba giả thuyết được đặt ra trước một hiệp hội lúa gạo “phi Việt Nam” của ba nước khu vực ASEAN.

Thứ nhất, Thái Lan có thể là “đầu tàu” của hiệp hội lúa gạo lần này. Việc Việt Nam vượt qua Thái Lan và Ấn Độ trở thành “cường quốc xuất khẩu gạo” số một thế giới vào nửa cuối tháng 8 vừa qua khiến Thái Lan không khỏi lo ngại. Đó là chưa kể vị thế xuất khẩu gạo Thái Lan giảm đáng kể khi nước này tụt xuống thứ ba thế giới, với 4,36 triệu tấn. Nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng trên, theo Chủ tịch Hiệp hội Xuất khẩu gạo Thái Lan Korbsook Iamsuri, là do chính sách trợ giá gạo cho nông dân của chính phủ Thái Lan khiến quốc gia này không thể giải tỏa gạo trong kho nhằm đáp ứng các hợp đồng xuất khẩu liên chính phủ trong bối cảnh các nước xuất khẩu khác như Việt Nam, Ấn Độ có thể cung cấp một số lượng lớn gạo với giá rẻ hơn. Đó là chưa tính đến việc Việt Nam đang tiến hành xuất khẩu tập trung “phân khúc thị trường chất lượng cao”, khi gạo thơm và gạo cao cấp Việt Nam có lúc chiếm đến 60% thị phần Hong Kong (Trung Quốc), thay thế Thái Lan. Trên thị trường thế giới, tính đến hết tháng 5-2012, thị phần gạo thơm và cấp cao Việt Nam chiếm 35%, đạt 40,4 triệu USD. Điều này xuất phát từ chất lượng gạo Việt Nam ngày càng được cải thiện trong khi giá gạo Việt Nam mang tính cạnh tranh hơn gạo Thái Lan.

Trong bối cảnh đó, ngày 9-9 Hiệp hội Xuất khẩu gạo của Thái Lan đã “đánh động” chính phủ về tình hình cạnh tranh gay gắt trên thị trường xuất khẩu bắt nguồn từ lượng gạo tồn kho, và hơn nữa là những quan ngại về thương hiệu gạo Thái Lan trước một Việt Nam đang vươn lên nhanh chóng. Trước đó khoảng một tuần, tờ Bangkok Post dẫn lời Chủ tịch Hiệp hội Nông dân Thái Prasit Boonchoey, bày tỏ ý kiến phản đối việc hợp tác sản xuất lúa gạo Việt-Thái bởi lo ngại Thái Lan “dẫn đàn đi buôn” bởi gạo Việt có thể vượt mặt gạo Thái không chỉ về số lượng như hồi tháng 8-2012 mà còn về cả thị phần gạo chất lượng cao. Việc “đầu tàu” trong hiệp hội lúa gạo sẽ giúp Thái Lan tìm được những hợp đồng “cứu cánh” cho lượng hàng tồn kho hiện tại, lấy lại vị thế cường quốc xuất khẩu gạo số 1 thế giới. Thế nên, nếu quả thực Thái Lan là “đầu tàu” cho hội liên hiệp lúa gạo Thái Lan, Philippines, Myanmar kỳ này, thì việc “làm lơ” Việt Nam cũng là điều dễ hiểu.

Tuy nhiên, nếu chỉ có một Thái Lan thì chưa thể quyết định cho cả một hiệp hội lúa gạo khu vực. Yếu tố Philippines cũng cần được xem xét, nhất là trong thời gian gần đây Philippines có những “va chạm” trong những hợp đồng nhập khẩu gạo Việt Nam và nước này đang nuôi tham vọng không nhập khẩu lúa gạo vào năm 2013. Năm 2011, chính phủ Philippines “mở màn” động thái cho phép khu vực tư nhân chiếm nhập khẩu gạo với sản lượng lớn, đạt mức 650.000 tấn trên tổng 850.000 tấn của cả nước. Trong năm này, xuất khẩu gạo Việt Nam sang Philippines có lúc phải “thua đau”. Rất nhiều hợp đồng xuất khẩu gạo sang Philippines phải hủy giữa chừng do sự yếu kém trong quá trình đàm phán của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam với các thương lái Philippines. Điều này khiến uy tín doanh nghiệp Việt bị ảnh hưởng do tính thiếu chuyên nghiệp, không chu đáo trong quá trình đàm phán.

Mặt khác, sự yếu kém trong việc quản lý tài chính của các thương nhân Philippines khiến họ chỉ mua được một lượng gạo rất nhỏ từ doanh nghiệp Việt Nam bởi rất ít ngân hàng chịu mở L/C cho thương nhân Philippines. Điều này khiến doanh nghiệp Việt, trước một nhu cầu xuất khẩu cao, trở nên thiếu “mặn mà” với thị trường này. Năm 2012, chính phủ Philippines chính thức quyết định cho phép khu vực tư nhân nhập khẩu toàn bộ lượng gạo trong bối cảnh những bài học thấm thía cùng những khó khăn tồn đọng năm 2011 chưa được giải quyết triệt để khiến quan hệ thương mại gạo Việt Nam - Philippines vẫn còn nhiều trở ngại cho cả hai bên. Trong khi đó, đầu tháng 8-2012, Thái Lan đã tiến hành đàm phán về tăng lên hơn 100.000 tấn gạo trong hạn ngạch xuất khẩu vào Philippines khi Philippines muốn duy trì biểu thuế nhập khẩu gạo cao 40% đến năm 2017. Thế nên, khi các doanh nghiệp Philippines tiến hành ký kết tham gia hiệp hội lúa gạo, việc “lỡ quên” Việt Nam là hoàn toàn có thể xảy ra.

Bỏ lỡ cơ hội với Myanmar

Về nhân tố Myanmar, chỉ có một giả thuyết đặt ra là Việt Nam đã… chậm chân trong chính sách. Đã có các gợi ý “Liên minh lúa gạo Việt Nam - Myanmar: Tại sao không?” và cả các cảnh báo “đừng để trâu chậm uống nước đục” được báo chí đưa ra trong bối cảnh chính phủ Myanmar tiến hành các cuộc cải cách “phi màu sắc”. Tiềm năng của quốc gia từng được mệnh danh là “Chén cơm của châu Á” trong một thời gian dài xuất phát từ những tiềm năng tự nhiên đã được nhắc đến rất nhiều trên các phương tiện thông tin Việt Nam. Thậm chí, không ít các nhà đầu tư đã đến quốc gia này để tìm kiếm các cơ hội đầu tư. Nhưng nếu nhìn ở cấp độ chính phủ, Việt Nam dường như chưa quyết liệt trong việc đưa ra các chính sách hợp tác nhằm tận dụng nguồn tài nguyên nông nghiệp trời phú. Chính TS Võ Hùng Dũng, ngay từ đầu năm 2011, đã cho biết Việt Nam hoàn toàn có thể hợp tác với Myanmar trên cơ sở đôi bên cùng có lợi. Theo đó, Việt Nam có thể tận dụng nguồn tài nguyên nông nghiệp của Myanmar để đầu tư kinh nghiệm, nguồn vốn vào lĩnh vực nông nghiệp, xóa đói giảm nghèo, chuyển giao quy trình sản xuất, nâng cấp công nghệ... Ông Hùng còn gợi ý: “Chính phủ cần hỗ trợ để các nhà nông học, các nhà kinh tế tham gia các hoạt động tư vấn cho Myanmar, khu vực tư nhân sẽ tham gia khi môi trường kinh doanh thuận lợi”. Tuy nhiên, hơn một năm trôi qua, Việt Nam dường như còn dè dặt và chưa có nhiều động thái đáng kể. Việc chính phủ không mạnh tay đầu tư “mở đường” khiến khu vực tư nhân “thiếu ánh sáng” cơ hội. Và trong trường hợp này, Thái Lan, Philippines đã làm tốt điều đó.

Hãy thử vẽ viễn cảnh của gạo Việt Nam khi hiệp hội gạo ba nước Thái Lan, Philippines và Myanmar hoạt động thành công. Khi đó, “bộ ba quyền lực” này, với những lợi thế so sánh trong đầu tư (Thái Lan cung cấp dịch vụ tiếp thị toàn cầu, Philippines cung cấp công nghệ và giống lúa, Myanmar có vai trò cung cấp đất và tài nguyên) sẽ tạo nên một OPEC lúa gạo thực sự, có khả năng chi phối giá gạo và ảnh hưởng an ninh lương thực trong khu vực và cả thế giới. Xét về góc độ kỹ thuật, tài nguyên, quảng bá tiếp thị và cả giống lúa thì trong cuộc chơi với “hội đồng bộ ba” này, tương lai hạt gạo Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn không chỉ ở vấn đề: phân khúc thị trường kém hơn, sản lượng gạo thấp hơn, thị trường xuất khẩu truyền thống (Philippines, Trung Quốc, Indonesia…) giảm dần, vị thế gạo Việt Nam thấp dần (do Thái Lan phục hồi)… mà giá gạo sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Tất nhiên khi đó, tương lai của người trồng lúa, thương nhân và doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam chắc chắn sẽ còn “lận đận” hơn hiện nay.

NÔNG NGIỆP ĐÃ XUẤT SIÊU TRÊN 8 TỶ USD
Trung Sơn Hảo và Dũng Trị (Báo Nhân dân)


VIETNAM Shiper ngày 15/10/2012. Theo thống kê của Bộ NNPTNT, kim ngạch nhập khẩu nông sản, vật tư nông nghiệp trong 9 tháng qua là 12,28 tỷ USD, còn kim ngạch xuất khẩu đã vượt 20,4 tỷ USD.

Như vậy, chỉ trong 9 tháng, ngành nông nghiệp đã xuất siêu đạt trên 8,1 tỷ USD với nhiều mặt hàng chủ lực như cà phê, gạo, gỗ, thủy sản… tiếp tục được giữ vững.

Trong 9 tháng, Việt Nam đã xuất khẩu được 1,36 triệu tấn cà phê với kim ngạch đạt 2,85 tỷ USD, so cùng kỳ năm trước tăng 36,8% về lượng và 29,8% về giá trị. Giá cà phê xuất khẩu bình quân 8 tháng đầu năm đạt 2.119 USD/tấn, giảm 3,9% so với cùng kỳ năm trước.

Hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam là Đức và Mỹ tăng trưởng khá cả về lượng và giá trị. Đáng chú ý nhất là thị trường Indonesia đã tăng trưởng đột biến với mức tăng lần lượt gấp gần 9 lần so với cùng kỳ năm 2011.

Trước sự “được mùa” của cà phê, mới đây ông Đỗ Hà Nam- Chủ tịch Hiệp hội Cà phê- ca cao Việt Nam cho biết: “Câu lạc bộ 20 nhà xuất khẩu cà phê hàng đầu nước ta đã thống nhất kiến nghị Chính phủ cho phép tạm trữ 300.000 tấn cà phê để điều tiết lượng xuất khẩu có lợi về giá”.

Đối với mặt hàng gạo, trong 9 tháng đã xuất khẩu được 6,2 triệu tấn với giá trị 2,78 tỷ USD, so cùng kỳ năm trước tăng 4,5% về lượng nhưng giảm 6,1% về giá trị. Đặc biệt, giá gạo tiếp tục có xu hướng giảm so với đầu năm. Giá xuất khẩu bình quân chung 8 tháng đầu năm đạt 452 USD/tấn, giảm 9,2%.

Cũng theo số liệu của Bộ NNPTNT, kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng nông sản khác cũng có sự tăng, giảm khác nhau. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu cao su chỉ đạt 2,05 tỷ USD (giảm 10,1%), điều đạt 1,06 tỷ USD (tăng 3,5%) và tiếp tục giữ vững vị trí xuất khẩu số 1 thế giới. Đặc biệt, các sản phẩm gỗ và lâm sản chỉ trong 9 tháng đã đạt kim ngạch tới 3,4 tỷ USD (tăng 20,4%). Lý do là các thị trường như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc đều có sự tăng trưởng mạnh.

VIETNAM Shiper (Theo Vinanet)

GỠ KHÓ CHO DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN

GIẢI PHÁP VƯỢT KHÓ

Trong khó khăn chung của nền kinh tế, để giúp các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn (DNNNNT) đứng vững và phát triển, bên cạnh việc ban hành các chính sách giúp doanh nghiệp tiếp cận được vốn vay ưu đãi và mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thì các hiệp hội nghề và bản thân doanh nghiệp cũng cần nỗ lực kết nối với nông dân và cơ quan quản lý Nhà nước, thực hiện đa dạng hóa sản phẩm, giảm chi phí sản xuất và tích cực tìm kiếm thị trường mới...

Hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn

Theo Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế nông nghiệp (Bộ Kế hoạch và Ðầu tư) Ðinh Ngọc Minh, sau hơn hai năm thực hiện Nghị định (NÐ) 61 về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, đến nay, mới có 10/63 tỉnh, thành phố cấp "Giấy xác nhận ưu đãi, hỗ trợ đầu tư bổ sung cho doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn" cho 42 dự án của 42 doanh nghiệp trên tổng số 25.760 DNNNNT với mức ưu đãi rất hạn chế. Cả năm 2010, kinh phí hỗ trợ chưa đến 10 tỷ đồng, năm 2011 khá hơn (hơn 40 tỷ đồng). Các khoản hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách hầu như chưa được thực hiện, nếu có cũng chỉ là nguồn vốn lồng ghép, huy động từ các chương trình khác. Các chính sách về thuế, thuê đất, hỗ trợ đào tạo, công nghệ, tư vấn... chưa đủ hấp dẫn để thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn gần như không thu hút được doanh nghiệp. Chính vì vậy, Bộ Kế hoạch và Ðầu tư đang gấp rút soạn thảo, xin ý kiến các địa phương, bộ, ngành để trình Chính phủ nghị định mới thay thế NÐ61 về các chính sách khuyến khích doanh nghiệp và hợp tác xã đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, với nhiều điểm mới được kỳ vọng sẽ hấp dẫn doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Chẳng hạn, như hỗ trợ chế biến một số sản phẩm đặc thù mà nước ta đang có lợi thế về sản lượng như cao-su, cà-phê, chè, thủy sản, lúa gạo,...; tập trung vào phát triển chăn nuôi đại gia súc, gia cầm, phát triển thủy - hải sản, chế biến cà-phê ướt, xử lý môi trường của các nhà máy chế biến nông, lâm-thủy sản, chế biến gỗ rừng trồng, chế biến nông sản, thủy sản; giết mổ gia súc, gia cầm tập trung. Hỗ trợ áp dụng sáng chế khoa học - công nghệ trong sản xuất của doanh nghiệp; quy hoạch và xây dựng nhà ở cho công nhân làm việc tại các nhà máy, chế biến nông, lâm - thủy sản. Về đổi mới cơ chế tài chính, cho phép các doanh nghiệp được sử dụng tiền thuế phải nộp cho Ngân sách Nhà nước để sử dụng đầu tư vào các nội dung có mức hỗ trợ nhỏ theo chính sách quy định tại Nghị định và cuối năm sẽ được quyết toán thuế theo phương pháp nộp và chi đồng thời.

Giải bài toán vốn

Theo Phó Giám đốc Sở NN và PTNT tỉnh Hải Dương Nguyễn Văn Tịnh, thực tế ở Hải Dương, hầu hết các doanh nghiệp đang phải vay vốn ngân hàng với lãi suất phổ biến 14%/năm. Ðầu tư vào nông nghiệp mang tính rủi ro cao bởi sự bất thường và phức tạp của thiên tai, dịch bệnh và thị trường bấp bênh thì rõ ràng, các doanh nghiệp không thể chịu nổi mức lãi suất trên. Còn theo Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành nghề nông nghiệp, nông thôn Việt Nam Lê Khắc Triết thì, khả năng tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng của các doanh nghiệp rất khó khăn. Sau khi đã vượt qua những rào cản khắt khe của thủ tục hành chính, lượng tiền vay được cũng chỉ đáp ứng được một phần hai, thậm chí một phần tư nhu cầu thực vay. Chính vì vậy, đã và đang có một thực tế là, tại hầu hết các địa phương trong cả nước doanh nghiệp đang tự "bơi", khi "đuối sức" sẽ buộc phải thay đổi hình thức kinh doanh, hoặc dừng "cuộc chơi".

Mới đây, để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có văn bản yêu cầu NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố phối hợp các Sở NN và PTNT, các hiệp hội chủ động rà soát số lượng doanh nghiệp giải thể, ngừng sản xuất, hàng tồn kho, tỷ lệ hàng tồn kho, tình hình tài chính, khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng..., từ đó đề xuất các giải pháp hỗ trợ và mở rộng tín dụng cho phù hợp, hiệu quả đối với từng ngành nghề, lĩnh vực của địa phương. Tập trung đầu tư cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có triển vọng tốt, có khả năng phát triển, vượt qua khó khăn trong giai đoạn hiện nay phục hồi sản xuất, kinh doanh, phát triển thị trường. Ðề xuất cơ chế chính sách hỗ trợ để thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; kiến nghị các biện pháp bình ổn giá lương thực, nông sản, chăn nuôi, thủy sản hợp lý nhằm ổn định và phát triển sản xuất, bảo đảm lợi ích cho nông dân.

Kết nối doanh nghiệp với cơ quan quản lý Nhà nước, nông dân và thị trường

Thời gian gần đây, trước khó khăn của các doanh nghiệp trong ngành, Chính phủ, Bộ NN và PTNT đã có nhiều giải pháp đồng bộ để giúp các doanh nghiệp nông nghiệp như: hỗ trợ vốn vay đầu tư sản xuất, tổ chức diễn đàn doanh nghiệp nông nghiệp hằng năm nhằm tiếp thu ý kiến phản ánh về khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp và bàn các biện pháp tháo gỡ, trợ giúp thông tin cho doanh nghiệp về chính sách của Nhà nước, khảo sát thực địa doanh nghiệp hằng năm để nắm bắt tình hình thực tế và đề xuất kịp thời các chính sách, biện pháp trợ giúp. Tuy nhiên, do những ưu đãi này chưa đủ sức hấp dẫn, nên hiệu quả thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn chưa cao.

Vậy, làm thế nào để doanh nghiệp đến với nông nghiệp, nông thôn? Rõ ràng, để phát triển sản xuất, nông dân rất cần doanh nghiệp. Nhưng doanh nghiệp không thể đứng vững nếu không có chính sách trợ giúp từ Nhà nước và không gắn bó với nhà nông. Ðể làm được điều này, vai trò của các hiệp hội ngành, nghề đã đến lúc cần được phát huy. Theo ông Lê Khắc Triết, các hiệp hội và hội nghề nghiệp cần phải thực hiện tốt vai trò cầu nối, kết nối doanh nghiệp với chính quyền địa phương, các bộ, ngành chức năng và kết nối giữa chính các doanh nghiệp với nhau trong thông tin thị trường, sản lượng để tránh bị ép giá trên thị trường thế giới. Ðồng thời, các hiệp hội sẽ phối hợp các bộ, ngành chức năng để tham gia quảng bá sản phẩm, xây dựng thương hiệu, tiếp cận thị trường thế giới.

Thực tiễn khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay cho thấy, nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc đưa nền kinh tế sớm ra khỏi suy thoái kinh tế thông qua việc tạo ra nhiều việc làm, thu nhập cho số đông dân cư. Vì vậy, phát triển và giúp đỡ DNNNNT tăng cường hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh sẽ giúp người dân xóa đói, giảm nghèo, góp phần ổn định kinh tế đất nước.
 *
* *

Theo Dự thảo Nghị định mới dự kiến thay thế NÐ 61 do Bộ Kế hoạch và Ðầu tư soạn thảo, sẽ chỉ còn 15 lĩnh vực nông nghiệp thuộc danh mục ưu đãi đầu tư (theo NÐ 61 là 28 lĩnh vực). Tuy nhiên, mức ưu đãi lại lớn hơn rất nhiều. Cụ thể, doanh nghiệp được hỗ trợ kinh phí tương đương 50% thuế phải nộp cho ngân sách để chi phí quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng;... Nhìn chung, mức hỗ trợ của Nhà nước sẽ chiếm khoảng 10% tổng nguồn vốn của dự án.

Theo tính toán của Bộ Kế hoạch và Ðầu tư, để thực hiện mức ưu đãi trên, tổng nguồn vốn thực hiện mỗi năm khoảng 8.000 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách hỗ trợ trực tiếp 5.000 tỷ đồng, vốn hỗ trợ qua thuế khoảng 3.000 tỷ đồng. Lượng vốn này sẽ giúp ngành nông nghiệp huy động được 18 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư/năm và tạo việc làm cho khoảng 500 nghìn lao động trực tiếp và gián tiếp.

(*) Xem Báo Nhân Dân từ số ra ngày 16-10-2012.

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Công bố bản đồ hoàn chỉnh biến thể gen của cây lúa

 FOODCROPS. Với hơn 85% các giống lúa được công bố trên tạp chí khoa học cây trồng của Mỹ  CSSA đều có nguồn gốc từ việc phát triển của các cặp lúa lai hiệu quả, thì nghiên cứu về nguồn gốc các giống lúa chủ yếu hiện nay ở châu Á có nguồn gốc từ hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc sẽ góp thêm những dữ liệu cần thiết để tập hợp những nguồn vật liệu di truyền hiệu quả cho công tác chọn tạo giống thích ứng tương lai của khu vực. Dựa theo sự chuyển đổi vùng nhiệt độ có thể sẽ là sự chuyển dịch vị trí nguồn vật liệu di truyền giống. Điều có thể sẽ diễn ra trong tương lai tới sẽ mang cơ hội mới với những thách thức mới. 

alt
 

Công bố bản đồ hoàn chỉnh biến thể gen của cây lúa

Một nhóm nghiên cứu của Trung Quốc và Nhật Bản vừa công bố một bản đồ hoàn chỉnh về các biến thể gen của cây lúa, nguồn cung cấp lương thực cho một nửa dân cư trên hành tinh.

Nghiên cứu cho thấy giống lúa chủ yếu hiện nay có nguồn gốc từ vùng châu thổ hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Quốc.

Nghiên cứu trên, được công bố trên tạp chí khoa học Nature ngày 3/10, là kết quả của quá trình phân tích tỉ mỉ mã di truyền ADN của hơn 1.000 giống lúa (bao gồm hai tiểu nhóm indica và japonica) và gần 500 giống lúa hoang (thuộc nhóm Oryza rufipogon), tổ tiên của các giống lúa đang trồng hiện nay.

Theo các nghiên cứu, đại đa số cây lúa được trồng hiện nay thuộc giống Oryza sativa L., được gọi chung là “lúa châu Á.” Giống này được phân thành hai tiểu nhóm là indica và japonica.

Lúa thuộc tiểu nhóm japonica có hạt ngắn và dính (tức lúa nếp), trong khi tiểu nhóm indica có hạt dài và không dính (tức lúa tẻ).

 Một điểm được các nhà nghiên cứu trong nhóm trên cùng nhất trí là giống lúa được trồng hiện nay có nguồn gốc từ giống lúa hoang Oryza rufipogon, cách đây hàng nghìn năm.

Tuy nhiên, nguồn gốc và quá trình thuần hóa giống lúa này vẫn còn là chủ đề tranh luận.

Về nguồn gốc của tiểu nhóm Oryza sativa japonica, tức là giống lúa ra đời đầu tiên, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng giống lúa này được thuần hóa từ các cây lúa hoang ở miền Nam Trung Quốc, khu vực trung tâm đồng bằng sông Châu Giang, thuộc hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay.

Tiếp đó, giống lúa thuộc tiểu nhóm japonica được lai với các loài lúa hoang tại miền Nam châu Á và Đông Nam Á để tạo thành các loại lúa thuộc tiểu nhóm indica.

 Hiện tại, trên thế giới có khoảng 155 triệu hécta trồng lúa, sản xuất ra 720 triệu tấn lúa/năm, trong 90% là ở châu Á.

Theo một số dự đoán, để bảo đảm an ninh lương thực đối với một phần quan trọng của cư dân toàn cầu, sản lượng lúa phải tăng gấp đôi vào khoảng năm 2030 và cần phải phát triển các giống lúa có sản lượng cao hơn.

 Ngoài hai tiểu nhóm giống lúa lớn kể trên, tại châu Phi còn một giống lúa với số lượng ít, có tên khoa học là Oryza glaberrima, thường được gọi là “lúa châu Phi”./.

Source: Vietnam+

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

 

Giống lúa IR50404 và hướng thay giống hiệu quả

FOODCROPS.  Giống lúa IR50404 được nông dân ĐBSCL chọn trồng nhiều do sau mùa mưa lũ nước rút chậm nên cần giống lúa ngắn ngày, nhưng năng suất vẫn phải cao. Tuy nhiên việc sử dụng giống lại bị hạn chế khi tiêu thụ vì nhược điểm gạo có hàm lượng amylose cao nên cứng cơm và độ bạc bụng lớn, không thích hợp với thị hiếu quốc tế; dễ bị gãy khi xay chà, làm tỷ lệ gạo nguyên thấp, nhất là canh tác trong vụ hè thu; và giá trị thương phẩm thấp (GS. Bùi Chí Bửu). Hơn thế việc quản lý thông tin các thương lái cho việc cung cấp gạo ra thị trường vẫn hạn chế, chưa đảm bảo đồng nhất mẫu gạo do trộn lẫn làm ảnh hưởng uy tín của những gạo ngon như Jasmine, OM 4900.... . Nông nghiệp Việt Nam đang phát triển theo chiều sâu để tăng thu nhập cho bà con nông dân cần phải đẩy mạnh hệ thống thông tin mạnh mẽ, quản lý chặt chẽ người chuyển hàng, khuyến cáo tức thời, đẩy mạnh hơn cho việc nghiên cứu chọn giống thích nghi vùng. Một người giàu được trăm người sẽ theo.

alt

Giống lúa IR50404

1. Nguồn gốc: được chọn lọc từ tập đoàn giống nhập nội của IRRI.
Được công nhận giống chính thức theo Quyết định số 126 QĐ/BNN-KHCN, ngày 21 tháng 5 năm 1992 của Bộ Nông Nghiệp & PTNT.

2. Đặc tính:

- Thời gian sinh trưởng 85-90 ngày.

- Chiều cao cây: 85 - 90 cm. Khả năng chống đổ kém. Thích nghi rộng trên nhiều vùng đất phù sa đến phèn trung bình, Canh tác được cả 3 vụ trong năm.

- Hơi nhiễm Rầy nâu và Đạo ôn. Nhiễm nhẹ với bệnh Vàng lá. Nhiễm vừa với bệnh Khô vằn.

- Năng suất: vụ Đông Xuân 6-8 tấn/ha, vụ  Hè Thu 5-6 tấn/ha.

- Hạt gạo bầu, bạc bụng. Khô cơm.

- Hàm lượng amylose (%): 26,0.

- Trọng lượng 1000 hạt 22-23 g.

- Chiều dài hạt trung bình: 6,74 mm.

Bi kịch IR50404
Hữu Đức

Nhiều huyện, IR50404 chiếm 80-90% diện tích

Lúa ĐX ở ĐBSCL đang vào mùa thu hoạch. Dù trên nhiều cánh đồng lớn chưa gặt rộ, mới vào khúc dạo đầu nhưng ẩn số lúa IR50404 đã dần lộ diện. Có nơi gần cả huyện trồng độc nhất giống lúa này, nay bán ra gặp lúc lúa rớt giá than vãn hết lời.

 Con kênh dẫn nước rẽ giữa hai cánh đồng lúa chín vàng ở ấp Trang Nhung, xã Trường Xuân, huyện Thới Lai (Cần Thơ) trông thật đẹp. Lác đác một vài thửa ruộng vừa gặt xong. Ghé nhà chuyện trò với nông dân trong xóm, niềm vui trúng mùa chưa đủ khỏa lấp nỗi buồn lúa đang rớt giá.

 Anh Phú Hòa, anh Sáu… giọng chùng xuống: Chỉ vì chạy theo IR 50404 nên giờ này ghe mua lúa vào trả giá tệ lắm, lúa phơi khô sạch 5.000-5.100 đồng/kg, còn lúa tươi vừa tuốt xong tại ruộng lái mua 4.600 đồng/kg, mất giá 200-300 đồng/kg so với những giống lúa khác. Với mức giá này còn cầm cự được, nhưng nếu rớt sâu hơn nữa xem như hết lời.

 Ở ấp Trang Nhung có tới 97% diện tích làm thuần một giống lúa IR50404. Cái khó ở vùng đồng xa phía đầu ngọn kênh tại vùng nam sông Hậu của Cần Thơ, Hậu Giang là sau mùa lũ, nước rút chậm. Bà con nông dân chỉ còn một chọn lựa giống lúa ngắn ngày là IR50404 để không trễ thời vụ cho cả một cánh đồng lớn. Hơn nữa đây là giống có khả năng cho năng suất cao.

 Có lẽ cùng suy nghĩ như vậy mà ở bên kia bờ bắc sông Hậu là Đồng Tháp, ông Trọng Bình, nông dân ấp Tân Mỹ, huyện Lấp Vò, nói: “Vụ lúa này Lấp Vò hầu như ai cũng làm lúa IR50404. Dạo này lúa rớt giá, dân đều rên, vì mua giá thấp bét. Lúa tươi vừa gặt ra hạt xong, thương lái trả mua tại ruộng khoảng 4.700 đồng/kg. Hỏi vì sao trồng IR50404 nhiều ư? Dễ hiểu quá, năm ngoái làm giống lúa này bán giá cao, thấy ngon ăn. Chọn IR50404 vì ưu thế năng suất cao, ngắn ngày, ít sâu bệnh, chi phí thấp, dễ canh tác…, nào ngờ đoán gió trật chìa, giá rớt”.

 Ông Huỳnh Ngọc Chiến, Trưởng phòng NN- PTNT huyện Lấp Vò, cho biết: Toàn huyện có 14.200 ha lúa ĐX, trong đó có tới 91,5% làm lúa IR50404. Nằm kề là huyện Lai Vung, nông dân làm lúa giống này cũng trên 80-90% diện tích. Đó là do năm ngoái gặp lũ lớn, rút chậm. Ở vùng làm 3 vụ lúa/năm, vì chưa tìm được giống khác thay thế nên nông dân chỉ còn cách chọn IR50404 nhờ vào đặc tính ngắn ngày, nối tiếp vụ sau tránh được lũ.

  Mặt khác năm ngoái lúa IR50404 được giá 6.000-6.200 đồng/kg, cả năm Lấp Vò có diện tích canh tác lúa 34.000 ha, lúa IR50404 chiếm tới 55%. Đó là lý do năm nay nông dân đổ xô trồng IR50404. Theo ông Chiến, với tình hình giá lúa thấp như thế này sang vụ HT, TĐ tới, nông dân sẽ thay đổi giống. Chắc chắn IR50404 sẽ giảm mạnh, do chất lượng gạo vụ HT thấp, tỷ lệ gạo bạc bụng cao.

 Vụ ĐX này có tin một tỉnh có diện tích lúa IR 50404 tới hơn 65.000 ha, vượt nhiều lần mức khuyến cáo. Hiện chưa có địa phương nào thống kê chính xác nhưng ước đoán diện tích lúa IR50404 tăng rất nhiều so vụ lúa ĐX năm trước.

 Ông Phạm Văn Dư, Cục phó Cục Trồng trọt nhắc lại khuyến cáo của Bộ NN-PTNT: Nông dân các địa phương trồng lúa chất lượng thấp diện tích không nên tăng quá 15-20%. Tuy nhiên mùa này một số tỉnh có diện tích lúa IR50404 tăng hơn 20%, có tỉnh 20-30%, thậm chí 60%. Chính vì diện tích lúa cấp thấp IR50404 tăng quá mức, gặp thị trường không thuận lợi, giá rớt là điều dễ hiểu.

 Nguồn NNVN

Trồng lúa IR50404 không theo khuyến cáo: Thiệt đủ đường!
Minh Tuấn

KTNT - Vụ đông xuân năm nay dù năng suất lúa đạt khá cao, từ 6,5-7 tấn/ha nhưng nông dân Đồng bằng sông Cửu Long vẫn kém vui vì giá lúa không cao, hiện dao động từ 4.350-4.500 đồng/kg (lúa tươi). Theo đó, sau khi trừ chi phí, nông dân không có lời.

Ông Lê Văn Bời ở ấp An Biên, xã An Nông (Tịnh Biên - An Giang) vừa thu hoạch 1ha lúa đông xuân sớm, với giọng buồn buồn, ông cho biết: “Năm nay sâu bệnh ít, năng suất lúa nhà tôi đạt 7 tấn/ha nhưng tư thương chỉ mua tại ruộng với giá 4.300 đồng/kg. Bán xong đống lúa tiếc hùi hụi, bởi 1 năm canh tác lúa chỉ trúng vụ đông xuân, nhưng bán với giá này, tôi chẳng lời được đồng nào”.

Ông Bời nhẩm tính, lúa nằm trong vùng bờ bao khép kín nên rất nặng chi phí phân bón, một công (1.000m2) tốn ít nhất 1 bao phân, chưa kể chi phí thuốc bảo vệ thực vật, giống, thuê máy gặt đập liên hợp, kéo lúa ra đê… “Tính chung một công lúa, nông dân chi phí tới 2,8 triệu đồng. Mỗi công thu hoạch được 700kg lúa, bán với giá 4.300 đồng/kg, chỉ lời 300.000 đồng. Chia 300.000 đồng đó cho 3 tháng, nông dân chúng tôi chỉ thu nhập 100.000 đồng/tháng, thua xa những người đi làm thuê, bốc vác”, ông Bời nói.

Cùng chung tâm trạng trúng mùa mất giá, ông Trần Văn Lũy canh tác 3ha lúa tại gò Cây Sung, thị trấn Tịnh Biên rầu rĩ than: “Trồng được 3ha giống lúa IR50404, hàng xáo ngoài Châu Đốc vô mua chê đường xa, kêu tôi phải dùng máy cày kéo lúa ra tận bờ kênh, nhưng cũng chỉ mua với giá 4.500 đồng/kg. Vụ đông xuân năm nay, lúa nhà tôi bị chuột cắn phá nhiều, năng suất chỉ đạt 6,5 tấn/ha. Bán với giá này, coi như lấy tiền cũ đổi tiền mới”.

Theo thống kê của ngành nông nghiệp tỉnh An Giang, hiện nông dân trong tỉnh đã thu hoạch khoảng 5.000ha lúa đông xuân. Tuy nhiên, theo ghi nhận của chúng tôi, vụ đông xuân năm nay, nhiều huyện trên địa bàn tỉnh vẫn trồng giống lúa cấp thấp IR50404, chiếm khoảng 60% diện tích dù ngay từ đầu vụ, Sở Nông nghiệp và PTNT đã khuyến cáo bà con không nên trồng quá 15% diện tích. Trong khi đó, đầu ra cho loại gạo này rất bấp bênh. Trong thời gian tới, nếu giá lúa vẫn nằm ở ngưỡng thấp thì việc tiêu thụ giống lúa này sẽ vẫn khó khăn.

Bà Tư Cẩm, tư thương chuyên thu mua lúa cho biết: “Giá lúa ở mức thấp khiến chúng tôi cũng gặp khó khăn. Giá thấp, bà con bán lúa không vui. Chưa kể, nhiều hộ không chịu bán, trữ lại chờ tăng giá”. “Vụ 3 vừa rồi, giống IR50404 được các nhà máy xay xát thu mua mạnh, dân dễ bán và có lời. Còn vụ này, giá lúa bấp bênh, nông dân than quá chừng…”, bà Tư Cẩm thở dài.

Hiện, trên địa bàn tỉnh An Giang có khoảng 36 doanh nghiệp, kinh doanh, xuất khẩu gạo, với tổng năng lực kho chứa 690.000 tấn gạo và 75.000 tấn lúa, công suất xay xát, bóc vỏ 1.198 tấn/giờ. Thực hiện công tác xây dựng hệ thống kho chứa lúa, gạo, An Giang sẽ đầu tư xây dựng mới kho chứa với tổng diện tích hơn 465.000m2, tương đương với sức chứa 620.000 tấn.

Tuy nhiên, bà Mai Thị Ánh Tuyết, Giám đốc Sở Công Thương An Giang cho biết, tính đến hết tháng 2/2012, chỉ có 4/17 doanh nghiệp triển khai đầu tư xây dựng hệ thống kho với tổng sức chứa 113.000 tấn trên địa bàn các huyện: Thoại Sơn, Chợ Mới và Tân Châu. Như vậy, đến nay so với quyết định của UBND tỉnh về xây dựng 4 triệu tấn kho chứa lúa thì mới đạt 15% kế hoạch.

Theo nhận định của Công ty xuất nhập khẩu An Giang (ANGIMEX): “Hiện nay, Ấn Độ, Myanmar bắt đầu tham gia vào thị trường xuất khẩu gạo cấp thấp, ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường xuất khẩu lúa gạo của nước ta. Hiện tại, các kho, phân xưởng của công ty cũng đang hoạt động hết công suất để thu mua gạo tạm trữ. Công ty có khoảng 12 xí nghiệp, phân xưởng, năng lực dự trữ khoảng 100.000 tấn. Tuy nhiên, đến thời điểm này, nhu cầu hợp đồng xuất khẩu gạo rất ít. Hy vọng thời gian tới, thị trường xuất khẩu gạo ổn định, công ty sẽ đẩy mạnh việc thu mua gạo cho nông dân”.

Ông Phạm Văn Bảy, Phó chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho rằng, thông thường vào thời điểm đầu năm, chúng ta đã ký được hợp đồng lớn với Philippines, Indonesia, Bangladesh. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có hợp đồng lớn nào được ký. Do vậy, lượng hàng giao trong quý I/2012 mới đạt 1,1 triệu tấn, giảm 40% so cùng kỳ (thời gian giao hàng kéo dài đến quý II/2012). Để đạt được số lượng xuất khẩu gạo 6,5-7 triệu tấn như dự kiến chúng ta phải nỗ lực rất nhiều.

Source: http://www.kinhtenongthon.com.vn
 

Giải bài toángiống lúa IR 50404
Nguồn:
CTO
 

Vụ lúa hè thu năm nay, nhiều nơi bà con nông dân ĐBSCL vẫn thích gieo sạ giống lúa IR 50404. Có nơi làm gần 30% diện tích, có nơi lên tới 40% diện tích trong khi Bộ NN&PTNT khuyến cáo chỉ nên làm 10% diện tích vì giống này cho gạo phẩm cấp thấp, khó cạnh tranh với gạo xuất khẩu cùng cấp của Ấn Độ. Chúng tôi đã phỏng vấn GS.TS Bùi Chí Bửu, Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, xoay quanh vấn đề này...

* Thưa Giáo sư, vì sao giống lúa IR 50404 vẫn được nông dân sản xuất nhiều?

- Giống lúa IR 50404 được nông dân sản xuất nhiều năm qua trên diện rộng vì giống này có thời gian sinh trưởng ngắn, 90-95 ngày khi gieo sạ thẳng; năng suất cao, dễ canh tác, nhẹ phân; khả năng quang hợp nhanh nên không bị lép; có thị trường cho nhà sản xuất bún, bánh tráng... Nhưng nhược điểm của giống lúa này là gạo có hàm lượng amylose cao nên cứng cơm và độ bạc bụng lớn, không thích hợp với thị hiếu quốc tế; dễ bị gãy khi xay chà, làm tỷ lệ gạo nguyên thấp, nhất là canh tác trong vụ hè thu; và giá trị thương phẩm rất thấp.

Giống IR 50404 tồn tại trong sản xuất một cách không mong muốn là câu chuyện dài của lúa gạo ĐBSCL. Khi nền nông nghiệp phát triển theo chiều rộng, có nghĩa là chúng ta phát triển nhiều về số lượng thì năng suất và sản lượng được nhấn mạnh hàng đầu. Chiến lược xuất khẩu gạo “trên cơ sở hạt lúa” bị xem nhẹ mà phổ biến là xuất khẩu “trên cơ sở hạt gạo” với chuỗi giá trị được phân ra quá nhiều công đoạn. Gạo ngon Jasmine, OM 4900 bị đánh đồng giá trị với gạo phẩm cấp thấp IR 50404, OM 576.

Ra thị trường thì thương lái trộn lẫn nhiều mẫu gạo làm mình không biết chắc đó là giống lúa gì. Chúng tôi là nhà chuyên môn về giống lúa nhưng khi ra chợ vẫn không thể phân biệt gạo đang bán xuất xứ từ giống lúa nào; với tên lạ hoắc qua hàng chục mẫu gạo ghi trên nhãn như gạo Đài Loan, gạo Mỹ, gạo Thái hương lài, gạo Lựa v.v... Nhưng cái lỗi này không phải do bà con nông dân.

* Như vậy, liệu mô hình cánh đồng mẫu lớn đang làm có giúp thay đổi được thói quen sản xuất này hay không?

- Mô hình cánh đồng mẫu lớn là bài tập ban đầu để doanh nghiệp thay đổi chiến lược xuất khẩu gạo ngay từ hạt lúa. Có nghĩa là nông dân được giúp đỡ từ trên đồng ruộng, đến lúc thu hoạch, xử lý sau thu hoạch một cách bài bản. Giấc mơ thương hiệu gạo Việt chắc chắn sẽ thành hiện thực. Cái cốt lõi của vấn đề chính là tổ chức lại sản xuất từ qui mô nông hộ nhỏ thành trang trại lớn, hợp tác hóa hiện đại.

Bây giờ là lúc nông nghiệp Việt Nam chuyển mình sang phát triển theo chiều sâu. Có nghĩa là chất lượng cao và tính cạnh tranh của nông sản lớn là yếu tố quyết định đến sự giàu nghèo của bà con nông dân.

* Nhưng sao ta không xuất khẩu gạo IR 50404 theo giá cạnh tranh với Ấn Độ?

- Gạo phẩm cấp thấp có thị trường lớn trên thế giới, nhưng tính chất cạnh tranh khá quyết liệt khi kho dự trữ gạo đã tăng trên 140-160 triệu tấn/năm. Mà khả năng lưu kho của ta hiện chưa tới 2 triệu tấn/năm. Trong khi gạo lưu thông trên thị trường quốc tế ở mức trên dưới 30 triệu tấn/năm. Bây giờ Ấn Độ, Myanmar và các nước khác vào cuộc, Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn về cạnh tranh giá. Đây chỉ là lý do trước mắt. Về lâu dài, Việt Nam phải xuất khẩu gạo phẩm cấp trung bình - cao mới giúp cho nông dân cải thiện bài toán thu nhập thấp từ rất nhiều năm qua. Nghĩa là nếu mãi xuất khẩu gạo phẩm cấp thấp thì nông dân vẫn tiếp tục nghèo.

* Vậy nhà khoa học có bảo đảm đủ các giống lúa tốt hơn thay cho giống IR 50404 không, thưa Giáo sư?

- Chúng ta có bộ giống lúa mới thay thế IR 50404, đáp ứng yêu cầu thị trường mới, hấp dẫn về giá và tăng thu nhập cho nông dân thực sự; chứ không phải xuất khẩu chỉ tăng thu nhập cho doanh nghiệp vì không có sự phân phối lại một cách công bằng thì nông dân nghèo vẫn nghèo. Đó là giống OM 4900 (gạo thơm), OM 6162, OM 6161 cho vùng Tây sông Hậu, chịu hạn, OM 6677 cho vùng đất phèn, OM 4498, OM 6976 cho vụ hè thu vốn rất kén giống và chịu mặn; giống OM 7347 (Cần Thơ 1) rất thích hợp cho vùng Cần Thơ nhờ phẩm chất gạo trắng hạt dài hơn hẳn Pathum Thani 1 của Thái Lan, hoặc bộ giống ST của Sóc Trăng. Đây mới là thế mạnh của hạt gạo Việt Nam.

* Sắp thu hoạch vụ hè thu 2012, rồi lại chuyển sang một vụ lúa mới, Giáo sư có khuyến cáo gì với bà con nông dân không?

- Nếu có lời khuyên cho bà con nông dân, tôi xin nói rằng bà con nông dân hãy mạnh dạn đổi mới giống lúa mới đang được Cục Trồng trọt, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia khuyến cáo cho từng mùa vụ, cho từng chân đất, để thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, để luôn luôn được an tâm với bốn chữ “trúng mùa, được giá”.

* Xin cảm ơn Giáo sư!

Source: http://www.hoinongdan.org.vn

 FOODCROPS. CÂY LƯỢNG THỰC 

Tìm đâu giống lúa chịu ngập mặn cho vùng ĐBSCL

FOODCROPS.Tương lai ĐBSCL đang gặp khó khăn, hiện tại có khoảng 7% số ruộng lúa chịu tác động của nước biển dâng (TS. Nguyễn Văn Bộ). Theo IRRI,  với một giống chịu ngập tốt hơn có thể tăng năng suất lên 3 tấn/ha, một giống chịu hạn tốt hơn có thể tăng năng suất lên tới 1.5 tấn/ha, một giống chịu mặn tốt hơn có thể tăng năng suất lên 2 tấn/ha. Vậy nếu một giống lúa có thể giải quyết cả hai vấn đề chịu mặn và chịu ngập thì năng suất có thể tiến đến mức nào ! Chỉ biết nếu ta có một giống lúa chống ngập, chúng vẫn chết nếu đồng ruộng bị nhiễm mặn. Bất kỳ một kỹ thuật mới hiện đại nào tương lai rồi cũng quay về đồng ruộng, quay về cùng sự thích ứng hiệu quả với thiên nhiên, với năng suất chính nó và vai trò thực tế của nó với chính an ninh lương thực khu vực

alt

Tìm cứu tinh cho đồng bằng sông Cửu Long

Minh Long

Trong bối cảnh đồng bằng sông Cửu Long phải đối mặt với tình trạng nước biển dâng và xâm thực mặn, tương lai của những nông dân ở đây phụ thuộc vào nỗ lực lai tạo một giống lúa chịu được cả ngập lẫn mặn.

Các nhà khoa học của Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) đang phối hợp với các đồng nghiệp từ Việt Nam tại thành phố Los Banos - ở phía đông nam thủ đô Manila của Philippines – để phát triển một giống lúa có khả năng chịu ngập úng trong hơn hai tuần và kháng mặn. Nó sẽ là một trong những giải pháp giúp nông dân Việt Nam đối phó với tình trạng ngập lụt và xâm thực mặn tại đồng bằng sông Cửu Long, nơi cung cấp tới hơn 50% sản lượng gạo của Việt Nam, Asian Times đưa tin.

IRRI đang tiến hành hàng loạt thử nghiệm để tìm ra giống lúa có khả năng giải quyết cả hai vấn đề: ngập úng và xâm thực mặn.

"Nếu chúng ta chỉ lai tạo được giống lúa có khả năng chống ngập, chúng vẫn chết nếu đồng ruộng nhiễm mặn”, Bjorn Ole Sander, một nhà nghiên cứu của IRRI, phát biểu.

4 đập thủy điện mà Trung Quốc xây trên dòng sông Mekong đã gây tác động tới các ruộng lúa ở hạ nguồn sông. Do lượng nước trong sông giảm, nước biển tràn vào sông. Ngoài ra lượng phù sa mà vùng châu thổ nhận được từ sông trong mùa mưa hàng năm cũng giảm khiến độ màu của đất giảm theo.

Nỗ lực tìm kiếm giống lúa có khả năng chịu ngập và mặn bắt đầu từ bang Orissa của Ấn Độ. Bang Orissa là nơi mà SUB 1 - giống lúa có khả năng chống ngập - ra đời. SUB 1 có thể sống sót sau khi chìm hoàn toàn trong nước trong 14 ngày. Các giống lúa khác không thể sống quá một tuần nếu chìm hoàn toàn trong nước.

“Bằng cách lai tạo biến thể của SUB 1, chúng tôi có thể tạo ra giống lúa mới mà không cần áp dụng kỹ thuật biến đổi gene. Nó có thể sống dưới nước trong 17 ngày”, Sander tuyên bố.

Nhưng lai tạo giống lúa có khả năng chống cả mặn lẫn ngập là thách thức lớn hơn nhiều.

“Quá trình nghiên cứu một giống lúa như thế có thể sẽ kéo dài trong ít nhất 4 năm. Nhưng nó sẽ mang đến giải pháp cho tình trạng ngập lụt và xâm thực của nước biển tại vùng châu thổ sông Mekong”, Sander bình luận.

Nước mặn từ Biển Đông đã lấn sâu vào đồng bằng sông Cửu Long tới 40 km, trong khi cách đây 30 năm con số đó chỉ là 10 km.

“Tương lai của đồng bằng sông Cửu Long đang bị đe dọa. Đó là lý do khiến chúng tôi đang hợp tác với IRRI để nghiên cứu giống lúa có khả năng chống ngập và mặn. 7% số ruộng lúa tại đồng bằng sông Cửu Long đang hứng chịu tác động từ tình trạng nước biển dâng”, tiến sĩ Nguyễn Văn Bộ, giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, phát biểu.

Mất 40% đồng bằng Cửu long nếu nước biển dâng một mét

Hương Thu

Nước biển dâng cao một mét, gần 40% diện tích đồng bằng sông Cửu Long ngập trong nước, đó là kịch bản biến đổi khí hậu ước đoán cho cuối thế kỷ này, do Bộ Tài nguyên môi trường công bố.

Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa công bố kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng mới nhất. Các kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam được xây dựng dựa trên ước tính về phát thải khí nhà kính toàn cầu, gồm các kịch bản ở mức thấp, trung bình và cao.

Theo kịch bản phát thải cao, thì cuối thế kỷ 21,toàn dải ven biển Việt Nam có nước biển dâng trong khoảng từ 57-73cm, khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang là nơi có mực nước biển tăng nhiều nhất, đến 105 cm.

Tiến sĩ Trần Thục, Viện trưởng Viện Khoa học khí tượng thủy văn và môi trường cho biết, theo tính toán, nếu mực nước biển dâng như trên, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long bị ngập; 35% dân số bị ảnh hưởng.

Riêng thành phố HCM, có 20 % diện tích sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi nước biển dâng.

Về nhiệt độ, đến năm 2100, Việt Nam có nhiệt độ trung bình tăng từ 1,6 đến 3,7 độ C.

Theo đánh giá của LHQ, Việt Nam là một trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất do biến đổi khí hậu. Trái đất nóng lên sẽ gây nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan như bão tố hoặc nắng nóng dẫn đến ngập lụt, hạn hán. Nước biển dâng cao sẽ xâm nhập mặn vào các vùng đồng bằng ven biển, ảnh hưởng đến nông ngư nghiệp - sinh kế của nhiều triệu người.

Source: http://vnexpress.net/gl/khoa-hoc/2012/07/tim-cuu-tinh-cho-dong-bang-song-cuu-long/

FOODCROPS. CÂY LƯƠNG THỰC

Văn hóa giáo dục

Nghị lực vào đời

Dạy Và Học

Dạy và Học
Dạy Và Học

Cây Lúa

Cây Lúa Hôm Nay

Cuộc Sống

Tình Yêu Cuộc Sống

Danh Nhân

Danh Nhân Việt Nam